PUCL QUYỂN 15 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt)
06/11/2015
QUYỂN 15 Quyển này tiếp theo chương Kính Phật. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt) 6.5. ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ 6.5.1. Lời dẫn Tránh khổ, cầu vui là thường tình của muôn loài; chán uế, ưa tịnh là bản tính của chúng sinh. Do hạnh nghiệp có...

QUYỂN 15
Quyển này tiếp theo chương Kính Phật.
6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt)
6.5.2. Giải thích tên gọi
* Lời bàn
Thuần khiết gọi là tịnh, chỗ ở gọi là độ. Vậy chỗ ở hay thế giới thuần khiết gọi là tịnh độ. Nhiếp ghi: “Cõi nước an trú không có năm trược, giống như pha lê, ngọc quý, nên gọi là Thanh tịnh độ”. Luận Pháp hoa ghi: “Nơi ở của những chúng sinh không còn phiền não gọi là Tịnh độ”. Có bốn loại Tịnh độ:
1- Pháp tính độ: lấy Chân như làm thể, nên Nhiếp luận ( bản đời Lương) ghi: “Lấy Liên hoa vương làm chỗ nương cho Tịnh độ, cũng như pháp giới Chân như là thể sở y của cõi tịnh”.
2- Thật báo độ: Nhiếp luận ghi: “Cõi này lấy nhị không làm cửa, tam tuệ làm đường ra vào, sa-ma-tha và tì-bát-xá-na làm xe, lấy căn bản vô phân biệt trí làm dụng”. Đó là căn cứ vào công đức báo thân mà trình bày thể của cõi này.
3- Sự tịnh độ: Cõi này làm bằng bảy báu thượng diệu, tức lấy năm trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc làm tướng. Do đó, Nhiếp luận ghi: “Đó là trụ xứ bằng bảy báu, tràn đầy ánh sáng của Phật”. Kinh Hoa nghiêm cũng ghi: “Trong cảnh giới tướng của chư Phật có trang trí nhiều thứ báu đẹp đan xen lẫn nhau”. Luận Tịnh độ ghi: “Đầy đủ các trân bảo và vật quí trang nghiêm”. Kinh Đại Bồ-tát tạng (bản Tân dịch) ghi: “Giả sử lửa lớn đốt cháy tất cả mọi vật trong các thế giới trên, nhưng Như Lai vẫn đi, đứng ngồi nằm trong đó. Cõi ấy tự nhiên xuất hiện đầy đủ loại nước có đầy đủ tám tính chất”.
4- Hóa tịnh độ: Năm trần bằng bảy báu do Đức Phật biến ra là thể của Hóa tịnh độ. Do đó, kinh Niết-bàn ghi: “Do thần lực của Phật mà mặt đất mềm mại, không có gò hầm, cát sỏi... Tất cả đều giống như thế giới Cực Lạc của Phật Vô Lượng Thọ ở phương tây”.
Luận Đại trang nghiêm còn ghi: “Do trí tuệ tự tại, tùy sự mong muốn của chúng sinh, Đức Phật có thể biến hiện ra các thế giới trong sạch bằng thủy tinh, hoặc lưu li v.v...”. Kinh Duy-ma-cật ghi: “Đức Phật ấn ngón chân xuống đất, mặt đất trở thành thanh tịnh”. Kinh Thập địa ghi: “Vì thuận theo tâm ưa thích của chúng sinh mà Đức Phật thị hiện cõi ấy..
Như vậy, các kinh luận này đều căn cứ vào nghĩa biến hóa mà luận Tịnh độ, tức là Đức Phật dùng thần lực hóa hiện thì có, thâu lại thì không. Vì thế, gọi là Hóa độ.
6.5.3. Trụ xứ
* Lời bàn
Phần trước nói có bốn loại Tịnh độ, nhưng chủ yểu có hai: một là Báo độ, hai là Hóa độ. Hai cõi này bao gồm lí độ lẫn sự độ. Báo độ là thể các thiện pháp xuất thế của Như Lai, thuộc vô lậu, không thuộc ba cõi.
Luận Tịnh độ ghi: “Quán tướng thế giới kia thù thắng hơn ba cõi”. Luận Trí độ ghi: “Có Tịnh độ vi diệu, thù thắng nằm ngoài ba cõi. Nhưng trụ xứ của Đức Phật là vô trụ xứ, vượt ngoài mười phương thế giới. Hoặc nương vào pháp thân mà lập Tịnh độ, nên luận ghi: “Đức Phật Thỉch-ca Mâu-ni có thế giới thanh tịnh giống cõi nước của Đức Phật A-di-đà. Đức Phật A-di-đà cũng có thế giới nghiêm tịnh và không nghiêm tịnh như thế giới của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni”. Kinh Niết-bàn ghi: “Thật ra Ta chẳng ở ngoài cõi Diêm-phù-đề”.
Cho nên trong kinh Pháp hoa có bài kệ:
Thường ở núi Linh Thứu
Và các trụ xứ khác
Chúng sinh gặp kiếp tận
Khi lửa lớn thiêu đốt
Cõi nước Ta an ổn
Người trời đều đầy đủ
Cung điện, lầu, vườn rừng
Các thứ báu trang nghiêm.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Tịnh độ của đức Như Lai, hoặc trên mũ báu, hoặc nơi vòng tai, hoặc ở chuỗi ngọc, hoặc ở hoa văn ca-sa, hoặc ở lỗ chân lông. Như vậy, lỗ chân lông dung chứa thế giới”. Luận Thập trụ ghi: “Khi Phật nhấc một bước chân thì vượt qua hằng sa tam thiên thế giới”.
Vị trí của Hóa độ: Hóa độ không có nơi chốn riêng, chỉ nương vào Báo độ mà lập tướng thô, hoặc ở khắp mười phương, hoặc ở ngay cõi này tiếp dẫn chúng trời người ba thừa. Như Đức Phật A-di-đà, vì dẫn dắt phàm phu thấp kém ở cõi Kham Nhẫn mà lập Tịnh dộ, hoặc ở cõi uế mà hiện tịnh, như ấn ngónchân xuống đất thì mặt đất biến thành tịnh. Tịnh độ này đồng như cõi trời. Hoặc trong khí thế giới cộng tướng của chúng sinh, do chủng tử cảm được mà hiện cảnh giới nhơ uế, thanh tịnh khác nhau. Tất cả đều tùy theo chỗ thấy bất đồng của chúng sinh trong sáu đường. Đó cũng đều là do danh ngôn bên ngoài huân tập mà thành tựu chủng tử thức chiêu cảm khí thế giới, từ đó tướng ảnh tượng hiện ra. Ảnh tượng ấy là tướng phần của Bản thức, do chủng tử cộng tướng và tướng ảnh tượng, cùng với hiện tướng thức làm nhân duyên mà tạo thành. Từ cộng tướng này, do sức của tăng thượng duyên nội báo mà cảm được các sự khổ vui khác nhau như thế.
6.5.4. Thấy biết
* Lời bàn
Hàng phàm phu và Nhị thừa ở Ưế độ thấy Đức Phật A-di-đà, các bồ-tát ở Tịnh độ cũng thấy Đức Phật A-di-đà. Căn cứ theo hai thuyết này, Báo độ hoàn toàn thanh tịnh; ứng độ thì có nhiễm có tịnh. Cho nên luận Tịnh độ nêu năm loại quốc độ:
1- Thuần tịnh độ: dành cho bậc chứng quả vị Phật.
2- Tịnh uế độ: tịnh nhiều, uế ít; là cõi của bậc bồ-tát từ Bát địa trở lên.
3- Tịnh uế bình đẳng độ: cõi của bậc bồ-tát từ Sơ địa đến Thất địa.
4- Uế tịnh độ: cõi uế nhiều tịnh ít, cõi của bậc bồ-tát Tính địa trước Thập địa.
5- Tạp uế độ: là cõi của hàng phàm phu chưa vào địa vị Tính địa.
Chúng sinh ở cõi thứ năm chỉ biết được một cõi sau mà không biết bốn cõi trước. Chúng sinh ở cõi thứ tư biết hai cõi sau mà không biết ba cõi trước. Chúng sinh ở cõi thứ ba thì biết ba cõi sau không biết hai cõi trước. Chúng sinh cõi thứ hai biết bốn cõi sau không biết cõi thứ nhất. Đức Phật ở cõi thuần tịnh, thấy biết tất cả.
6.5.5. Nhân tu
* Lòi bàn
Dần chứng mười thuyết trong kinh luận:
- Cỏ thuyết nói tu tập một hạnh duy nhất mà sinh Tịnh độ: Kinh Niết-bàn ghi: “Vua Hữu Đức làm hộ pháp cho tì-kheo Giác Đức. Do công đức ấy mà sinh về nước Bất Động”. Kinh Duy-ma ghi: “Trực tâm là Tịnh độ của bồ-tát. Khi bồ-tát thành Phật, không có những chúng sinh nịnh hót, dối trá sinh về nước ấy”.
- Có thuyết nói thực hành hai hạnh mà sinh Tịnh độ: Lương Nhiếp luận ghi: “Thiện pháp xuất thế là căn lành do vô phàn biệt trí và hậu đác trí phát sinh, hoặc dùng định tuệ làm phương tiện”.
- Có thuyết nói do ba hạnh sinh Tịnh độ: Kinh Niết-bàn ghi: “Tư duy ba pháp tam-muội: Không, vô tướng, vô tác mà sinh Tịnh độ”. Kinh Phật thuyết quản Vô Lượng Thọ ghi: “Tất cả chúng sinh đời vị lai muốn sinh về cõi Cực Lạc, phải tu ba nghiệp:
1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, tu tập mười điều thiện.
2. Quy y Tam bảo, nghiêm trì giới luật, không trái phạm oai nghi.
3. Phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh Đại thừa, sách tấn người tu hành.
- Có thuyết nói tu bốn hạnh sinh Tịnh độ: Kinh Duy-ma ghi: “Tứ vô lượng tâm là Tịnh độ của bồ-tát. Khi bồ-tát thành Phật, những chúng sinh có đủ tâm từ-bi-hỉ-xả sinh về cõi nước của Ngài”.
- Có thuyết nói lấy tứ nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự làm Tịnh độ của bồ-tát. Khi bồ-tát thành Phật, chúng sinh được pháp nhiếp giải thoát sinh về đó.
- Có thuyết nói tu năm hạnh sinh Tịnh độ: Luận Tịnh độ ghi: “Một là lễ bái, hai là tán thán, ba là phát nguyện, bốn là quán sát, năm là hồi hướng”.
- Có thuyết nói tu sáu hạnh sinh Tịnh độ: Kinh Duy-ma ghi: “Bố thí là Tịnh độ của bồ-tát. Khi bồ-tát thành Phật, tất cả chúng sinh có năng lực thí xả sinh về nước ngài, cho đến trí tuệ là Tịnh độ của bô-tát
Khi bồ-tát thành Phật, những chúng sinh trí tuệ sinh về nước Ngài”.
- Có thuyết nói tu bảy hạnh sinh Tịnh độ: Kinh Duy-ma ghi: “Dùng bảy thứ hoa thanh tịnh tắm gội, người ấy không dơ uế. Một là giới thanh tịnh, hai. là định thanh tịnh, ba là kiến thanh tịnh, bốn là độ nghi thanh tịnh, năm là đạo phi đạo thanh tịnh, sáu là hạnh thanh tịnh, bảy là hạnh đoạn trí thanh tịnh. Trong đó, hai pháp trước là Phương tiện đạo, ba pháp kế là Kiến đạo, pháp tiếp là Tu đạo, pháp cuối là Vô học đạo. Do bảy pháp thanh tịnh này, thành tựu được tứ đạo. Do thành tựu tứ đạo, nên có Báo cư Tịnh độ”.
- Hoặc có thuyết nói tám hạnh sinh Tịnh độ: Kinh Duy-ma ghi: “Bồ-tát thành tựu mấy pháp mới có thể ở thế giới này không bị ô nhiễm các hạnh, được sinh về Tịnh độ?
Đáp: Bồ-tát thành tựu tám pháp sẽ sinh về Tịnh độ:
1. Làm lợi ích chúng sinh mà không mong cầu phúc báo và thay chúng sinh chịu khổ.
2. Đem tất cả công đức mình có bố thí cho người.
3. Tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, giữ đức khiêm hạ không ngăn ngại.
4. Xem bồ-tát như Phật.
5. Những kinh chưa nghe, khi nghe thì không nghi ngờ.
6. Không chống trái với hàng thanh văn.
7. Không ganh ghét người khác cúng dường, không đặt quyền lợi của mình lên trên, luôn điều phục tâm đối với việc ấy.
8. Thường xét lỗi mình, không nói lỗi người, thường dốc lòng tạo các công đức.
- Có thuyết nói tu chín hạnh sinh Tịnh độ: Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Nói lược là ba bậc, nói rộng là chín phẩm”.
Có thuyết nói tu mười hạnh sinh Tịnh độ: Kinh Duy-ma ghi: “Thập thiện là Tịnh độ của bồ-tát. Khi bồ-tát thành Phật, những chúng sinh thọ mạng dài lâu, giàu có, Phạm hạnh đầy đủ, nói lời chân thật, nhu hòa, quyến thuộc không xa lìa, hòa thuận, không tranh cãi, lời nói có lợi ích, không tật đố, không sân hận, có chính kiến thì sinh về nơi đây”.
Kinh Di-ỉặc phát vấn ghi: “Nếu muốn sinh về nước An Dưỡng, nên tu mười niệm:
1. Thường sinh lòng từ đối với tất cả chúng sinh.
2. Không hủy hoại việc làm của tất cả chúng sinh, nếu có thì sẽ không được vãng sinh.
3. Khởi tâm thương xót, không làm tổn hại tất cả chúng sinh.
4. Phát tâm bảo vệ chính pháp, không tiếc thân mạng, không phi báng tất cả pháp.
5. Tâm nhẫn nhục bền chắc.
6. Tâm thanh tịnh, không đắm nhiễm lợi dưỡng.
7. Phát tâm Nhất thiết chủng trí, hằng ngày thường nhớ nghĩ không quên.
8. Khởi tâm tôn trọng tất cả chúng sinh, bỏ tâm kiêu mạn, nói lời khiêm tốn.
9. Khi bàn luận, tâm không nhiễm trước, luôn tỉnh giác, không ồn náo tán loạn, nên khởi vô lượng nhân duyên căn lành.
10. Thường quán và niệm Phật, xa lìa các tướng khác.
Di-lặc nên biết! Mười niệm như thế, mỗi mỗi theo thứ lớp lần lượt sinh khởi, thì nhất định vãng sinh Cực Lạc”.
- Có thuyết nói ba mươi bảy phẩm trợ đạo là Tịnh độ của Bồ-tát. Khi bồ-tát thành Phật, chúng sinh thành tựu niệm xứ, chính cần, thần túc, căn, lực, giác, đạo sinh về nước ấy. Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Phát bốn mươi đại nguyện thì sinh về Tịnh độ”.
Luận Ưu-ba-đề-xá có bài kệ:
Quán cảnh giới Tịnh độ
Thù thắng hơn ba cõi
Cùng tận như hư không
Rộng lớn không ngằn mé
Chính đạo, đại từ bi
Sinh căn lành xuất thế
Khắp cõi nước tịnh thanh
Như trời trăng, gương sáng.
* Lời bàn
Nếu căn cứ vào Thật báo tịnh độ, cần tu chính nhân vô lậu xuất thế và thành tựu lí hạnh mới được vãng sinh. Nếu người thuộc hạ phẩm vốn không có chính nghiệp, tùy thực hành hạnh nào, hoặc lúc lâm chung trong mười niệm mà được vãng sinh, nhưng chỉ sinh vào Hóa độ, không thể thấy Báo độ. về pháp quán, có nói rõ trong Đại Tiểu thừa thiền môn (bản 10 quyển).
6.5.6. Dẫn chứng
Kinh A-di-đà cổ ảm thanh vương Đà-la-ni ghi: “Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các vị tì-kheo:
- Thế giới Cực Lạc ở phương tây hiện nay có Đức Phật A-di-đà an trú. Nếu bốn chúng thụ trì danh hiệu Đức Phật ấy, khi lâm chung liền thấy Đức Phật A-di-đà cùng với đại chúng hiện đến trước mặt. Người này thấy được, lòng vui mừng, công đức tăng trưởng gấp bội. Do nhân duyên này, nên về sau sinh vào nơi nào, người ấy cũng vĩnh viễn xa lìa thân sinh ra từ bào thai dơ uế, chỉ tự nhiên hóa sinh ở trong hoa sen báu tươi đẹp, đầy đủ sáu pháp thần thông, ánh sáng rực rỡ, cùng ở với Đức Phật A-di-đà và đại chúng thanh văn.
Cõi nước của Đức Như Lai Chính Biến Tri ấy hiệu là Thanh Thái. Đô thành, nơi thánh vương an trụ, ngang dọc mười nghìn do-tuần, trong đó toàn là chủng tộc Sát-đế-lợi. Cha của Đức Phật A-di-đà là chuyển luân thánh vương Nguyệt Thượng, mẹ Ngài tên là Thù Thắng Diệu Nhan, trưởng tử của Ngài là Minh Nguyệt, đệ tử thị giả là Vô cấu Xưng, đệ tử trí tuệ là Hiền Quang, đệ tử thần túc tinh cần là Đại Hóa, ma vương là Vô Thắng, có các tì-kheo như Đề-bà-đạt-đa là Tịch Tĩnh”.
Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Đức Phật bảo bồ-tát Di-lặc:
- Giả sử ba nghìn đại thiên thế giới đều bị lửa thiêu đốt, nhưng người niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà đi vào trong đó cũng không có gì khó”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Lúc bấy giờ, đại bồ-tát Tâm Vương bảo các bồ-tát:
- Này Phật tử! Một kiếp ở thế giới Ta-bà của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bằng một ngày một đêm ở cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà. Một kiếp ở thế giời Cực Lạc bằng một ngày một đêm ở thế gỉới Thánh Phục Tràng của Đức Phật Kim Cang. Một kiếp ở thế giới Thánh Phục Tràng bằng một ngày một đêm ờ thế giới Bất Thoái Chuyển Âm Thanh Luân của Đức Phật Thiện Lạc Quang Minh Thanh Tịnh Khai Phu. Một kiếp ở thế giới Bất Thoái Chuyển Âm Thinh Luân băng một ngày một đêm ở thế giới Li cấu củaĐức Phật Pháp Tràng. Một kiếp ở thế giới Li cấu bằng một ngày một đêm ở thế giới Thiện Đăng của Đức Phật Sư Tử. Một kiếp ở thế giới Thiện Đăng bằng một ngày một đêm ở thế giới Thiện Quang Minh của Đúc Phật Lô-xá-na-tạng. Một kiếp ở thế giới Thiện Quang Minh bằng một ngày một đêm ở thế giới Siêu Xuất của Đúc Phật Pháp Quang Minh Thanh Tịnh Khai Phu Liên Hoa. Một kiếp ở thế giới Siêu Xuất bằng một ngày một đêm ở thế giới Trang Nghiêm Tuệ của Đúc Phật Nhất Thiết Quang Minh. Một kiếp ở thế giới Trang Nghiêm Tuệ bằng một ngày một đêm ở thế giới Kính Quang Minh của Đức Phật Giác Nguyệt.
- Này Phật tử! Theo thứ tự như thế cho đến trăm vạn a-tăng-kì thế giới, một kiếp ở thế giới cuối cùng bằng một ngày một đêm thế giới Thắng Liên Hoa của Đức Phật Hiền Thủ. Bồ-tát Phổ Hiền và các đại bồ-tát ở khắp cõi nuớc ấy”.
Kinh A-di-đà Phật ghi: “Đức Phật bảo các tì kheo:
- Thái tử của vua A-xà-thế và năm trăm vị trưởng giả, vô số kiếp về sau đều sẽ thành Phật như Đức Phật A-di-đà. Thái tử và năm trăm trưởng giả này đã trụ giai vị Bồ-tát đến nay đã vô số kiếp, mỗi vị đều cúng dường bốn trăm ức Đức Phật. Nay lại đến cúng dường Ta. Tất cả nhừng người này vào thời Đức Phật Ca-diếp đã làm đệ tử của Ta. Nay lại gặp nhau trong hội này!”.
6.5.7. Cảm ứng
6.5.7.1. Đời Tống, sa-môn Thích Tăng Lượng: Sư trụ tại chùa Trường Sa, Giang Lăng, là người chí khí mạnh mẽ, giới luật nghiêm tịnh, thường kết duyên Tây phương, nên nguyện đúc tượng Đức Phật Vô Lượng Thọ cao một trượng sáu. Công trình vĩ đại, trải qua nhiều năm mà vẫn chưa hoàn thành. Nghe miếu ở núi Cố Khê, Tương châu có rất nhiều đồng, sư muốn khuyến hóa quỷ thần để lấy đồng đúc tượng, nên đến gặp thứ sử Trương Thiệu, nói rõ nguyên nhân và xin vài chiếc thuyền cùng một trăm trai tráng.
Trương nói:
- Miếu này rất linh thiêng, ai xúc phạm đến sẽ chết. Hơn nữa, miếu do người Man canh giữ, e rằng việc này khó thành.
Sư nói:
- Nếu được thì tôi và ngài chung hưởng công đức. Nếu có chết thì mình tôi chịu.
Ồng Trương liền cung cấp người và thuyền. Đêm trước khi sư đến, thần miếu đã biết trước, liền nổi giông gió, sấm chớp, mây mù, chim kêu, thú gào... nhưng lúc sư đến thì trời quang, mây tạnh. Cách miếu hơn hai mươi bước có hai chảo đồng, mỗi chảo hơn vài trăm hộc, một con rắn lớn, dài hơn mười trượng từ trong chảo phóng ra chắn lối đi. Tùy tùng cả trăm người đều hoảng sợ thoái lui. Sư bèn sửa y phục bước tới, dộng tích trượng bảo rắn:
- Vì đời trước ngươi tạo tội nghiệp, nên thụ thân rắn, nếu nay không nghe tên Tam bảo thì làm sao tự cứu? Nay ta tạo tượng Phật Vô Lượng Thọ một trượng sáu, nghe ở đây có nhiều đồng nên từ xa đến, mong ngươi có thể tránh đường, để ta lấy đồng!
Rắn liền ngẩng đầu lên nhìn sư, rồi trườn mình bò đi. Sau đó, đích thân sư chỉ huy đoàn người lấy các vật bằng đồng. Chỉ có một chiếc bình nhổ đặt ở đầu giường, dung tích khoảng bốn thăng, bên trong có con thằn lằn dài hơn hai thước ra vào trong đó, thì để lại không lấy. Đồ trong miếu lớn và nặng, rất nhiều, mười phần chỉ lấy một và là những vật nhỏ, nhưng thuyền đã đầy, sư bèn quay trở về. Người giữ miếu cũng chẳng phản đối.
Sư trở về đúc tượng tại kinh đô. Đến niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (442) đời Tống thì việc đúc tượng hoàn tất. Tượng phát ra thần khí uy nghiêm, hào quang sáng rỡ, tiếng đồn pho tượng linh dị truyền khắp kinh thành. Tống Văn đế nghinh tượng về triều. Vì chưa có viên quang, nên vua sai làm viên quang dát vàng, định an trí tượng tại chùa An Lạc. Mọi người cho rằng tháp Bành Thành hiệu là Đồng Bảnhiện tọa lạc ở quốc môn, nên rước tượng đặt ở đó. về sau, Minh đế lấy cung điện cũ làm chùa, tức chùa Tương Cung và thỉnh tượng an trí ở đó.
6.5.7.2. Đời Tống, Cát Tế Chi: Ông là người Cú Dung, hậu duệ của Trĩ Xuyên. Vợ ông là Kỉ Thị, người cùng quận, dung mạo xinh đẹp, hiền đức. Vợ chồng ông đều học đạo Tiên nhưng Kỉ Thị rât mến mộ Phật pháp, lòng tin kính không đổi thay. Niên hiệu Nguyên Gia mười ba (436), người vợ đang dệt vải, chợt thấy bầu trời trong sáng, nên bỏ thoi, ngước nhìn bốn hướng, thấy ở phương tây Đức Phật xuất hiện cùng với tràng phan, bảo cái rực cả bầu trời. Người vợ lòng thầm vui mừng, suy nghĩ: “Trong kinh nói đến Đức Phật Vô Lượng Thọ, chính là Ngài đây chăng?”, rồi cúi đầu kính lễ. Tế Chi thấy vợ cung kính nên vội vàng đến xem. Người vợ liền nắm tay Tế Chi và chỉ Đức Phật. Tế Chi nhân đó thấy được nửa thân Phật cùng tràng phan, bảo cái. Lát sau, điềm lành ấy biến mất. Thế rồi xuất hiện mây năm màu rực rỡ. Những người thân và dân trong làng cũng đều chứng kiến, giây lâu dần dần biến mất. Từ đó dân làng nhiều người tin theo Phật pháp.
6.5.7.3. Đời Tống, ni sư Tuệ Mộc: Ni sư họ Phó, xuất gia năm mười một tuổi, giữ giới Tiểu thừa, trụ tại chùa thôn Trúc Dặc, quận Lương. Ban đầu ni sư đọc kinh Bát-nhã ngày hai quyển Khi sư Tuệ Siêu lập nhàđể kinh, ni sư đến lễ bái chợt thấy ở góc đông bắc ngôi nhà có một vị sa-môn thân vàng ròng, đắp y màu đen, chân không chạm đất. Đêm ấy, Tuệ Mộc lại nằm tụng kinh, mộng thấy mình qua Tây phương, đến ao sen, thấy những người hóa sinh ngồi đầy trong hoa đó. Có một hoa lớn trống, không có người, ni sư muốn lên ngồi trên hoa đó, mới vịn hoa gắng sức trèo lên thì bất giác miệng tụng kinh phát ra tiếng lớn. Mẹ cho rằng Tuệ Mộc bị ma quấy nhiễu nên đánh thức.
Mẹ của ni sư rất già, răng đã rụng hết, nên ni sư thường nhai cơm mớm cho mẹ. Cô cho rằng đã quá ngọ mà chưa thể súc miệng là không đúng pháp, nên ba mươi tuổi mà cô chưa thụ giới Cụ túc. Sau khi mẹ qua đời, Tuệ Mộc tự phát cỏ, lập đàn thỉnh sư truyền giới, ở trong đàn tràng, bất chợt ni sư thấy ánh sáng màu vàng rực rỡ, nhìn hướng tây nam thấy có thiên thần, mặc áo màu vàng đỏ có viền, cách Tuệ Mộc lúc gần, lúc xa, rồi bỗng nhiên biến mất.
Những sự linh dị ấy, ni sư giấu kín không nói với ai. Anh của ni sư là người xuất gia, khi nghe qua việc này muốn biết rõ, bèn nói dối dụ ni sư: “Em vì đạo đã nhiều năm, cuối cùng cũng không được gì, chi bằng để tóc xuất giá”. Ni sư nghe thế lo sợ cho là thật, mới trinh bày sơ lược về những việc cảm ứng của mình. Lại có ni Tĩnh Xưng nghe đạo hạnh của ni sư nên đến thân cận, rồi khéo dò hỏi, ni sư đem hết sự việc kể lại. Sau đó, ni sư cùng những vị ni đồng tu đỉnh lễ ĐứcPhật Vô Lượng Thọ. Có lần, Mộc lạy xuống mà không đứng dậy, mọi người cho rằng ni sư ngủ, bèn đến lay dậy, rồi gạn hỏi nhưng ni sư không đáp. Tĩnh Xưng lại lần nữa gắng sức dò hỏi. Ni sư đáp: “Lúc cúi xuống, tôi mộng đến nước An Dưỡng, được nghe Đức Phật thuyết kinh A-di-đà, vừa được bốn quyển thì bị lay dậy nên tỉnh giấc, thật đáng tiếc!”. Đến năm Nguyên gia mười bốn (437), ni sư đã 69 tuổi.
6.5.7.4. Đời Tống, Ngụy Thế tử: ông người quận Lương, tôn phụng Phật pháp, siêng năng tu tập. Con gái ông cũng như vậy, chỉ có vợ ông mê muội, không tin kính. Niên hiệu Nguyên Gia thứ nhất (424), cô con gái mười bốn tuổi bị bệnh chết. Bảy ngày sau, cô gái sống lại và nói:
- Xin đặt một tòa cao và một quyển kinh Vô Lượng Thọ.
Thế tử liền sắp đặt đầy đủ. Trước đây tuy cô thường trai giới, lễ bái, nhưng chưa từng đọc kinh, nay liền thăng tòa tụng kinh, âm thanh rõ ràng, câu chữ rành mạch. Tụng xong, cô xuống tòa nói với cha:
- Khi chết, con được sinh về nước Vô Lượng Thọ. Lúc ấy, con thấy trong ao có ba hoa sen lớn. Đời sau, cha, anh và con sẽ hóa sinh vào đó. Riêng mẹ thì không có, nên khó thoát khỏi khổ lụy. Vì lo cho mẹ nên con trở về báo tin.
Nói xong cô gái liền mạng chung. Khi ấy, người mẹ mới kính tin Phật pháp.
6.5.7.5. Đời Tống, Đàm Hà Viễn: Ông là người Lư Giang, cha tên là Vạn Thọ, giữ chức Ngự sử trung thừa. Ông thụ trì giới Bồ-tát, tinh tiến tu học. Năm mười tám tuổi, niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (432), cha mất, ông đau xót, phục tang không kể đến tính mạng, đến nỗi sinh bệnh. Ngoài việc tụng kinh ông còn hướng tâm về Tịnh độ mong cầu sự cảm ứng. Ông thường thỉnh mấy vị tăng đến nhà tụng kinh, trong đó có sư Tăng Hàm. Ông thường đối trước Tăng Hàm sám hối nghiệp xưa. Sợ gặp chướng duyên khi lâm chung không có cảm ứng, nên sư thường khích lệ để ông tinh tiến.
Đến ngày mười sáu tháng hai niên hiệu Nguyên Gia thứ mười (433), sau khi tụng kinh xong, chúng tăng đã ngủ. Sang canh bốn, bất chợt ông nói lớn:
- Ca tụng, ca tụng!
Sư Hàm kinh ngạc đến hỏi, Viễn đáp:
- Con thấy thân Phật màu vàng ròng, tướng mạo giống như tượng Phật đang thờ, toàn thân phóng ánh sáng xa hơn một trượng, tràng phan, đài hoa theo sau khắp cả bầu trời, đẹp đẽ vi diệu không thể nói hết. Con đang ở gian nhà hướng tây, thấy Phật từ phương tây đến, con xoay mặt về hướng ấy, Đức Phật dừng lại và bảo con đi mau.
Ngày thường ông ốm yếu, hen suyễn, nhưng lúc ấy trở nên mạnh mẽ, vui tươi, tràn đây sinh khí. Ôngđứng lên đi rửa tay, sư Tăng Hàm thoa hương lên tay và hái hoa trong vườn rải lên cúng dường Phật.
Mẹ ông nói:
- Nay ra đi, lẽ nào con không nhớ ta sao?
Viễn lặng yên, lát sau vội nằm. Người nhà vốn có lòng tin kính, lại nghe sự linh ứng này, đều vui mừng, vơi bớt lo buồn. Canh năm đêm ấy ông qua đời, trong nhà tỏa hương thơm ngát, vài ngày sau mới hết.
6,5.7.6. Đời Lương, sa-môn Thích Pháp Duyệt: Cuối nhà Tề, sư làm tăng chủ, trụ ở chùa Chính Giác, giữ giới thanh tịnh, tinh tiến tu phúc nghiệp, bốn chúng đều qui ngưỡng. Sư từng nghe ở chùa Tống Vương tại Bành Thành có tượng Phật cao một trượng tám do Xa kị tướng quân Vương Trọng Đức là thứ sử Từ châu, đòi Tống tạo. Đây là pho tượng đẹp nhất vùng Giang Tây. Nếu trong vùng bị tai họa, hoặc tăng ni gặp cảnh bức ngặt, thì tượng Phật đổ mồ hôi. Mồ hôi chảy nhiều hay ít thì tai họa theo đó hoặc nặng hoặc nhẹ. Niên hiệu Thái Thỉ thứ nhất (465) đời Tống, lúc ấy Bành Thành thuộc các nước phương Bắc, họ dẫn theo nghìn người đến dời tượng nhưng cuối cùng không thể được.
Nhà Tề lúc đầu thống lĩnh mấy quận trong châu qui phục phương nam, ép buộc chúng tăng giữ thành. Lúc ấy, tướng soái quân địch là Lan Lăng đánh vào doanh trại, bắt được các sa-môn. Thế là Lăng bắt hết sa-môn trong châu giam trong vườn chùa, đồng thời dâng biểu về triều vu cáo sa-môn trợ giúp quân phản loạn. Khi ấy, tượng đổ mồ hôi chảy ướt chính điện. Vương Khiêm tướng của nhà Lương đang trấn giữ Bành Thành kính tin Tam bảo, nên ông đích thân đến sai người lau tượng, lau xong thì mồ hôi lại tiếp tục chảy, không dừng. Vương Khiêm bèn đốt hương lễ bái, thành tâm khấn nguyện: “Chúng tăng vô tội, từ nay đệ tử xin bảo vệ chúng tăng không để tai họa xảy ra. Nếu lòng thành có cảm, xin cho đệ tử lau sạch mồ hôi”. Thế rồi tự tay ông lau thì tượng liền khô, do đó dâng biểu tâu trình, chư tăng nhờ đó được tha.
Nghe chuyện linh ứng như thế, sư rất vui mừng, mong được chiêm ngưỡng lễ bái, nhưng đường sá cách trở, nên không toại nguyện.
Xưa, Minh đế nhà Tống từng tạo tượng Phật cao một trượng tám, nhưng bốn lần đúc không thành, nên đổi lại một trượng tư. Sư cùng với sa-môn Trí Tĩnh ở chùa Bạch Mã hợp sức tạc lại tượng Đức Phật Vô Lượng Thọ cao một trượng tám. Thể hiện quyết tâm, sư gom góp vàng và đồng, nhưng gặp lúc cuối đời Tề, đất nước loạn lạc, nên sự việc đúc tượng cũng không thành.
Đến đầu nhà Lương, sư tâu việc này lên vua. Vua cho phép đúc tượng, lại giúp tạo viên quang, đài tượng và cung cấp đầy đủ vật liệu cùng thợ giỏi. Đến ngày mồng ba tháng năm niên hiệu Thiên Giám thứ tám (509) đời Lương, tại chùa Tiểu Trang Nghiêm, sư đúc tượng Phật, kích thước như cũ, nhưng đã nấu hết bốn vạn cân đồng mà chưa đổ đến phần ngực. Nhân dân đóng góp đồng rất nhiều, song cũng không đủ, vẫn thiếu như trước. Việc này được cấp báo lên vua. Vua hạ lệnh cúng thêm ba nghìn cân đồng. Ở kinh thành vừa chiếu theo lệnh của vua xuất chở đồng đi, thì chỗ đúc tượng đã thấy xe chuyển đồng đến gần lò. Thế là cho vào lò nung chảy và đổ vừa đủ. Lát sau người và xe đều biến mất. Mọi người so với số đồng của vua đã ban, mới thầm biết nơi đưa đồng đến và tin thật có sự linh ứng. Thế là những thợ đúc tượng và đạo tục đều vui mừng, ca ngợi.
Khi tháo khuôn đo lại, thì tượng cao đến một trượng chín mà thân tướng vẫn cân đối, lại có hai đồng tiền lớn nằm trên y không bị nấu chảy. Thật không thể biết được vì sao! vốn định bốn vạn cân đồng là dư, sau tăng thêm ba nghìn cân mà vẫn còn thiếu. Điềm lành kì diệu phát ra từ tâm mong cầu. Nên biết thần thánh cảm thông, phàm tình chẳng thể lường được. Tượng vừa đúc thành, tì-kheo Đạo Chiếu hằng đêm lễ bái sám hối. Chợt sư thấy tượng phóng ánh sáng rực rỡ. Nhìn kĩ, sư mới biết hào quang của Phật dị thường. Tượng đúc ba ngày sau chưa kịp tháo khuôn thì có thiền sư Đạo Độ, là vị tăng cao khiết, đã cúng y bảy điều để trợ kinh phí cho lễ khai đỉnh. Lúc ấy, từ xa bỗng thấy có hai vị tăng quì mở khuôn ở phần nhục kế, đến gần xem thì không thấy.
Sau đó, sư và sư Tĩnh lần lượt thị tịch. Vua lệnh cho sư Tăng Hựu ở chùa Định Lâm đảm nhiệm việc còn lại.
Đến ngày 16 tháng 2 năm niên hiệu Thiên Giám thứ chín (510) tượng được dời về chùa Quang Trạch. Tháng ấy trời không mưa nên có bụi, đến khi trời sáng, sắp dời tượng, thì mây giăng, mưa nhỏ vừa thấm ướt. Sư Tăng Hữu kinh hành bên tượng, đang chú tâm vào khí trời, bỗng từ xa thấy khắp thân tượng phát sáng, giống như đèn đuốc và nghe tiếng lễ sám. Sư vào nhà xem kĩ thì thấy ánh sáng chiếu khắp, người giữ chùa là Tưởng Hiếu Tôn cũng thấy như thế. Đêm ấy khách mua bán bên sông Hoài đều nghe như có tiếng mấy trăm người dưới thuyền lớn đốc thúc sửa cầu. Nên biết linh tượng rất nặng, sức người đâu thể tự dời!
Sau đó, đúc thêm tòa và viên quang, lại có điềm lành hương thơm lan tỏa. Trong vùng phía đông sông Thông, tượng này linh ứng bậc nhất!
6.5.7.7. Đời Tùy, tượng Phật A-di-đà và các bồ-tát: Tượng Phật A-di-đà và năm mươi vị bồ-tát là những thụy tượng của vùng Tây Vực. Tương truyền ngày xưa có bồ-tát ngũ thông ở chùa Kê-đầu-ma, Thiên Trúc đến cõi An Lạc thỉnh cầu Đức Phật A-di đà:
- Chúng sinh ở cõi Ta-bà phát nguyện sinh Tịnh độ, nếu không có hình tượng Đức Phật thì không thể phát nguyện lực, cúi xin Phật rủ lòng thị hiện!
Phật dạy:
- Ồng hãy về trước, ta hiện đến ngay!
Bồ-tát trở về, thì thấy Phật A-di-đà và năm mươi tượng bồ-tát đã đến, mỗi vị đều ngồi tòa sen trên lá cây. Bồ-tát liền theo đó, vẽ lại rồi phân bố cùng khắp.
Từ đời Ngụy-Tấn đến nay, trài qua thời gian khá lâu, lại thêm pháp nạn, kinh và tượng Phật đều không còn, thụy tượng hầu như không hiện nữa. Cho đến đời Tùy Văn đế, Phật giáo được xiển dương, sa-môn Minh Hiến thỉnh được một tượng Phật từ nơi pháp sư Đạo Trường, người nước Bắc Tề. Xét về nguồn gốc của tượng thì phù hợp với tương truyền, nên sư vẽ ra lưu truyền trong nước. Bấy giờ, Tào Trọng Đạt ở Bắc Tề, vốn người nước Tào rất giỏi về hội họa. Tượng do ông vẽ hiện bày hết nét Phạm của tôn dung, truyền tả trọn tướng quí của thụy tượng, mọi người đều tôn kính. Ngày nay trên vách tường phía nam của chùa còn lưu lại bút tích này.
6.5.7.8. Đời Tùy, Thích Tuệ Hải: Sư họ Trương, người Vũ Thành, Thanh Hà, trú ở chùa An Lạc, Giang Đô. Tuy thông suốt kinh luận, nhưng sư chỉ chuyên tu Tịnh nghiệp, dốc lòng cầu linh cảm. Bỗng một hôm, có vị tăng tên Đạo Thuyên ở Tế Châu mang bức họa Đức Phật Vô Lượng Thọ đến bảo:
- Đây là bức họa do bồ-tát Ngũ Thông ở chùa Kê-đầu-ma, Tây Thiên Trúc nương hư không đến thế giới An Lạc họa lại.
Sư thầm hiểu ý này, ngày đêm đối trước tượng tha thiết lễ sám, liền thấy hào quang chiếu sáng. Vui mừng vì gặp được điều may hiếm có, nên sư chí thành họa lại bức tượng và thầm nguyện khi xả báo thân được sinh về cõi nước An Lạc.
Đến tối đột nhiên sư đứng dậy, xoay mặt về phía tây đỉnh lễ rồi ngồi kết già, mờ sáng sư đã thị tịch, thần sắc tươi nhuận trang nghiêm như khi còn sống. Sư tịch vào tháng năm niên hiệu Đại Nghiệp thứ năm (609), hưởng thọ sáu mươi chín tuổi.
6.5.7.9. Đời Đường, Thích Đạo Ngang: Sư ở chùa Hàn Lăng, Tương Châu, không rõ họ gì, người nước Ngụy. Sư là người trọng tín nghĩa, phong thái thanh nhã, chí nguyện khác người, vượt trên thế gian, trí tuệ vốn có, chẳng do người khai ngộ. Sư lập chí cầu sinh Tây phương, nguyện về An Dưỡng.
Có lần ban đêm thăng tòa thuyết giảng, trời tối đen, không có đèn đuốc, sư đưa lòng bàn tay lên thì ánh sáng lạ phát ra, chiếu khắp giảng đường. Đại chúng thấy vậy nhưng không biết từ đâu đến, sư nói:
- Ánh sáng này luôn ở trong tay ta đâu có gì lạ!
Một hôm, biết thọ mệnh đã hết, sư vui vẻ bảonhững người có duyên:
- Mồng một tháng tám, ta sẽ từ biệt các con!
Đến kì hạn, đang lúc khỏe mạnh, sư chợt hỏi đại chúng:
- Đến giờ thụ trai chưa?
Đến giờ Ngọ, sư lên tòa cao, thân hiện những tướng lạ, lò hương tỏa ra mùi thơm kì đặc. Sư trao giới bồ-tát cho bốn chúng, giảng giải lời lẽ thiết yếu, khiến người nghe sinh tâm hổ thẹn. Ẹấy giờ, bảy chúng vây quanh, nhận lãnh pháp vị, sư nhìn lên thấy thiên chúng tề tựu, nhạc cụ đầy trời, xa xa vang lên tiếng nhạc dịu dàng thanh thoát. Thiên chúng cất cao giọng bảo mọi người: “Trời Đâu-suất trỗi nhạc xuống nghinh đón!”.
Sư nói: “Thiên đạo chính là cội gốc sinh tử, chẳng phải là chí nguyện của tôi. Xưa nay tôi chỉ chuyên tâm cầu sinh Tịnh độ. Lòng thành này sao không được toại nguyện?”.
Sư nói xong, liền thấy thiên chúng và nhạc trời dần xa rồi biến mất. Lại thấy cõi Tây phương với nhiều hương hoa, âm nhạc, giống vầng mây bay đến, vây quanh đỉnh đầu. Tất cả mọi người đều thấy.
Sư nói:
- Đại chúng ở lại mạnh khỏe! Tướng lành Tây phương đã đến nghinh đón, ta phải đi đây!
Nói xong, tự nhiên lò hương rơi khỏi tay, sư tịch ngay trên tòa.
Sư mất ở chùa Báo ứng, thọ sáu mươi chín tuổi nhằm tháng tám, niên hiệu Trinh Quán thứ bảy (633). Tăng tục đều khóc than thảm thiết, người đến xem rất đông. Khi tẩm liệm, thấy dưới chân sư có dòng chữ: “Phổ Quang đường”. Sau đó, đại chúng đưa thi thể sư về núi Hàn Lăng an táng. Cho đến mùa xuân mà thi thể không hư hoại, sư vẫn ngồi vững như trước.
Nếu đạo không hợp với kinh văn, hạnh không đúng với bậc thánh thì sao có được sự linh dị như thế?
6.5.7.10. Đời Đường, sa-môn Thích Thiện Trụ: Sư người Doanh Châu, ở chùa Tịnh Ảnh, Tây kinh. Sư thông suốt nhiều kinh luận, nhưng sở trường về kinh Niết-bàn, cơ trí và biện luận nổi tiếng bậc nhất trong nước. Năm bảy mươi mốt tuổi, lúc sắp lâm chung, sư bảo môn nhân:
- Ta một đời chính tín, không dám xem thường lời Phật dạy, lo gì không sinh về Tịnh độ!
Nói rồi, sư sai người quét dọn, lau chùi phòng ốc, đốt hương, nghiêm trang chờ đợi. Sư bệnh nhiều ngày, chi nằm trên giường, chợt hôm ấy sư ngồi dậy chắp tay bảo thị giả:
- Hãy đặt tòa cho Thế Tôn! Rồi nói tiếp: Đức Thế Tôn đã đến!
Bấy giờ, mọi người thấy sư như hổ thẹn sảm hối. Hồi lâu, sư nói: “Đức Thế Tôn đi rồi!” và cúi mìnhxuống như đưa tiễn. Sau đó sư nằm xuống và bảo mọi người:
- Vừa rồi Đức Phật A-di-đà đến, các người không thấy sao? Chẳng bao lâu ta sẽ đi! Nói vừa dứt lời, sư thị tịch.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
06/11/2015
PUCL QUYỂN 25 - CHƯƠNG KIẾN GIẢI
QUYỂN 25 Quyển này có một chương Kiến giải. 17. CHƯƠNG KIẾN GIẢI 17.1. LỜI DẪN Tâm thức biến chuyển, đó là lí vô thường; ngộ mê trái nhau, bậc Thánh nào có dấu vết; lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ như vang theo tiếng. Đó chí...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 24 - CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP
QUYỂN 24 Quyển này tiếp theo chương Nghe pháp và giảng pháp. 16. CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP (tt) 16.5. PHÂN BIỆT CHỦNG Khi thăng tòa, trước tiên vị pháp sư phải lễ kính Tam bảo, lắng tâm, quan sát thời cơ và xác định...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ
QUYỂN 23 Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp. 14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn) 14.1. LỜI DẪN Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi;...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO
QUYỂN 22 Quyển này có một chương Nhập đạo. 13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO 13.1. LỜI DẪN Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN
QUYỂN 21 Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian. 10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN 10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo....
06/11/2015
PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ
QUYỂN 20 Quyển này có một chương Kính lễ. 9. CHƯƠNG KÍNH LỄ 9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 19 - CHƯƠNG KÍNH TĂNG
QUYỂN 19 Quyển này có một chương Kính tăng. 8. CHƯƠNG KÍNH TĂNG 8.1. LỜI DẪN Tăng bảo là những bậc trì giới cấm, giữ chân tính, oai nghi thoát tục. Họ cầu xuất thế mà phát tâm, lìa thế gian mà học đạo, không động lòng tr...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 18 Quyển này tiếp theo chương Kính pháp. 7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt) 7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉ...
