Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 12 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)

30/10/2015

QUYỂN 12 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.14. NIẾT-BÀN 5.14.1. Lời dẫn Loài hàm linh chúng ta phúc hết, nên đấng Pháp Vưong đã thị hiện Niết-bàn, xả báo thân bên dòng Đề hà, thọ tám mươi...

PUCL QUYỂN 12 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
Phần 1

QUYỂN 12
Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật.
5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)

5.14. NIẾT-BÀN 5.14.1. Lời dẫn Loài hàm linh chúng ta phúc hết, nên đấng Pháp Vưong đã thị hiện Niết-bàn, xả báo thân bên dòng Đề hà, thọ tám mươi tuổi, ứng thân Thế Tôn diệt, đệ tử tuôn máu lệ nào vơi! Tranh nhau hỏi Thế Tôn điều nghi lần cuối, đồng đến cúng dường đức Từ Phụ lúc lâm chung.
Than ôi! Đuốc tuệ xua tan bao tăm tối, mây lành che mát khắp quần sinh. Thật đáng buồn thay cho hàng đệ tử! Nhưng pháp thân rỗng lặng, rốt ráo vô vi; báo thân, hóa thân là thân độ sinh tùy căn cơ ứng hiện. Đã có sinh hẳn phải có diệt, phàm thánh tuy sai khác, nhưng chẳng ai tránh khỏi. Cho nên, Thế Tôn tạm nói đau lưng mà chuyển pháp môn cam lộ, mượn cách nằm hông phải để phóng hào quang, đó là những biểu thị Thế Tôn không thật bệnh. Cho đến việc thân đã được bọc nghìn tấm lụa mà vẫn thị hiện lộ hai bàn chân; kim quan sắp đóng mà đứng dậy chắp tay chào Thánh mẫu, đó là biểu thị Thế Tôn không thật diệt. Cho nên, thân hoại tức chỉ quyền mà thường trụ là chỉ thật. Thế thì ý chỉ của thí dụ bóng trăng trong nước đã rõ vậy.
5.14.2. Thị tịch
Luận Trí độ ghi: “Năm một trăm hai mươi tuổi, Tu-bạt-đà-la mộng thấy trời, người đều bị mù mắt, hình trần đứng trong bóng tối, mặt trời rơi xuống, biển lớn khô cạn, gió thổi mạnh bay núi Tu-di. Tỉnh dậy ông rất sợ hãi. Có vị trời nói với Tu-bạt-đà-la: ‘Đây là điềm báo trước bậc Nhất Thiết Trí sắp nhập niết-bàn, chẳng liên quan đến ông’. Sáng dậy, Tu-bạt-đà-la vào rừng muốn gặp Phật, nhưng tôn giả A-nan ba lần không cho. Phật biết nên từ xa gọi ông đến để từ biệt”.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Nửa đêm mồng tám tháng hai, Như Lai tự mình gấp làm ba các y tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng, an-đà-la-bạt-tát. Sau đó Ngài vào kim quan đắp y lên thân, trao bình bát và tích trượng cho tôn giả A-nan, rồi nhập định Kim cang dê lại xá-lợi toàn thân. Phật đưa cánh tay vàng ra khỏi kim quan, hỏi A-nan về hai tôn giả Ca-diếp và Ngưu Thi. Tôn giả A-nan trả lời:
- A-la-hán Ngưu Thi đã nhập Niết-bàn.
Phật nói:
- Ta nay vĩnh viễn diệt độ.
Nói xong, Ngài im lặng. Thế Tôn lại nhiều lần vẫy tay hỏi A-nan:
- Ta nói kinh Đại thừa cho tám bộ chúng, ngươi có nghe trọn vẹn không?
- Bạch Thế Tôn! Kinh ấy chỉ Phật mới biết.
Thế Tôn lại hỏi:
- Ta ở cung trời Đao-lợi nói pháp cho mẫu thân, ngươi có biết không?
- Bạch Thế Tôn! Con không biết.
Ngài lại hỏi:
- Ta thuyết pháp ở cung rồng, có con rồng đắc đạo, lưu toàn thân xá-lợi cao một trăm ba mươi trượng, ngươi có biết không?
- Bạch Thế Tôn con không biết.
- Ta ở trong thai mẹ mười tháng, chuyển pháp luân bất thoái chuyển cho các bồ-tát; Như Lai dùng thần lực hiện tướng đi đứng nằm ngồi, cùng tất cả các bồ-tát vân tập ở trong thai mẹ, ngươi có biết không?
- Bạch Thế Tôn! Con không biết.
Đại thánh A-nan lẽ nào chẳng biết! Nói chẳng biết là vì muốn nêu công giáo hóa rất bí mật của Như Lai”
Kinh Niết-bàn ghi: “Thiện nam tử! Ta ở nơi Sa-la song thụ này diễn nói pháp lớn tên là Đại Niết-bàn. Hai cây ở phương đông biểu thị nghĩa phá vô thường đắc chân thường, cho đến hai cây ở phương bắc biểu thị nghĩa phá bất tịnh chứng đắc chân tịnh. Chúng sinh bảo vệ rừng Sa-la không để cho ngoại đạo bẻ cành lá, chặt phá. Ta cũng như thế, vì bốn pháp thường, lạc, ngã, tịnh nên bảo đệ tử hộ trì Phật pháp. Bốn cặp song thụ ấy do Tứ thiên vương trông coi. Vì Tứ thiên vương hộ trì pháp của Ta, nên Ta nhập niết-bàn tại nơi đây”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Bấy giờ, Như Lai đi đến Sa-la song thụ, gấp làm bốn các tấm y: uất-đa-la-tăng làm niệm, Tăng-già-lê làm gối, rồi Ngài nằm nghiêng về phía phải, hai chân chồng nhau mà vào Niết-bàn”.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Bấy giờ, tám vị quốc vương của tám nước lớn đều mang năm trăm tấm lụa trắng, cùng gỗ chiên-đàn đặt hết vào trong kim quan, dùng năm trăm tấm lụa bọc lấy kim quan, lại dùng năm trăm xe chở nước tô thơm để rưới lên lụa trắng.
Bấy giờ, vua trời Đại Phạm dẫn thiên chúng cõi trời Đại Phạm đứng ở bên phải, Thích-đề-hoàn-nhân cùng với thiên chúng cõi trời Đao-lợi đứng ở bên trái. Bồ-tát Di-lặc cùng các vị bồ-tát thần thông trong mười phương đứng trước Phật. Lúc ấy, Thế Tôn muốn vào định Kim cang lưu xá-lợi toàn thân để chuyển pháp chân thật này ở cõi Ta-bà. Thế Tôn nghĩ như thế xong, thế giới trong mười chấn động sáu cách”.
5.14.3. Thánh mẫu về thăm
Kinh Ma-da ghi: “Ngày Thế Tôn nhập niết-bàn, tôn giả A-na-luật lên trời Đao-lợi báo cho thánh mẫu Ma-da biết. Thánh mẫu Ma-da liền đến chỗ Phật. Lúc ấy, kim quan tự mở, Như Lai chắp tay thưa hỏi, cảm niệm thánh mẫu từ cõi trời xa hạ cố đến đây. Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Ông nên biết! Vì giáo hóa chúng sinh bất hiếu ở đời sau, nên Ta ở trong kim quan thăm hỏi mẹ”.
Luật Tăng-kì ghi: “Làm lễ trà-tỳ thân Phật cạnh tháp Thiên Quang”.
Kinh Ca-diếp phó Phật niết-bàn ghi: “Thế rồi, tôn giả Ca-diếp từ biệt Phật đi vào núi Y-đồ-lê, cách nước Xá-vệ hai vạn sáu nghìn dặm. Ở núi ấy có rất nhiều bảy báu, vô số quả ngọt, cây thơm, cây thuốc và còn có loài kì lân, chu tước, phượng hoàng cùng các đạo sĩ ngoại đạo. Nơi ấy có một tảng đá vuông, dài rộng một trăm hai mươi dặm, bằng phẳng, màu ngọc lưu li, có cây lá năm sắc bốn mùa tươi tốt. Tôn giả Ca-diếp dạy pháp cho một nghìn đệ tử, tất cả đều ngồi trên đó. Các đệ tử ấy đã thành tựu quả vị A-la-hán, lại thường tụng kinh, hành đạo trên tảng đá này.
Phần 2

Một hôm, có bảy vị đệ tử cùng nằm mộng: một vị thấy vùng trung tâm tảng đá bị rạn nứt và cây trong rừng đều bật gốc; một vị thấy dòng suối dài bốn mươi dặm đều cạn khô, hoa quả khô héo rơi rụng; một vị mộng thấy ngồi bên cây Câu-la bị nghiêng ngả; một vị mộng thấy đất ở cõi Diêm-phù đều bị nghiêng sụt; một vị mộng thấy núi Tu-di sụp lở; một vị mộng thấy Kim luân vương mất; một vị mộng thấy mặt trời, mặt trăng rơi rụng, trời đất tăm tối.
Sáng hôm sau, những vị ấy trình điềm mộng lên thầy. Tôn giả Ca-diếp bảo:
- Khi trước, chúng ta thấy ánh sáng và mặt đất chấn động. Nay các con lại mộng thấy như thế, lẽ nào Thế Tôn nhập niết-bàn? Thế rồi, tôn giả cùng các đệ tử đi đến nước Câu-di-na”.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Khi tôn giả Ca-diếp cùng các đệ tử đến, Đức Phật đưa đôi chân ra ngoài kim quan. Tôn giả Ca-diếp nói kệ:
Phật giáo hóa quần sinh
Độ chúng cũng đã khắp
Con hành đạo phương xa
Chỉ buồn không thấy Phật.
Thế rồi, tôn giả Ca-diếp nhiễu kim quan bảy vòng. Tôn giả A-nan đứng ở góc tây bắc, Nan-đà đứng ở góc đông bắc, chư thiên đứng ở sau. Cách song thụ bốn mươi chín bước, chính hướng bắc, Đại Ca-diếp tay cầm đuốc đốt củi thơm”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Khi Phật đã niết-bàn, song thụ trổ hoa rủ xuống cúng dường. Tôn giả A-nan nói kệ:
Năm trăm tấm lụa quấn
Đều cháy không còn gì
Nghìn chiếc y lụa tốt
Đắp vào thân Như Lai
Chỉ hai chiếc chẳng cháy
Ngoài cùng và sát thân ”.
5.14.4. Thời gian
Kinh Niết-bàn ghi: “Như Lai vì sao nhập niết-bàn vào tháng hai? Này thiện nam! Tháng hai gọi là tháng xuân, vạn vật sinh trưởng, tháng này tâm lí chúng sinh đa phần có tư tưởng chấp thường, vì phá tâm chấp ấy nên nói tất cả pháp đều là vô thường, chỉ Như Lai là thường trụ bất biến. Ở trong sáu thời thì đầu mùa đông muôn vật khô héo, mọi người không ưa, tháng xuân thời tiết ôn hòa cây cối tốt tươi, ai ai cũng thích. Vì phá dục lạc thế gian, nên Đức Phật mới nói thường, lạc, ngã, tịnh. Cũng thế, vì phá ngã tịnh thế gian, nên Như Lai nói ngã tịnh chân thật.
Vì sao tất cả các việc sơ sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân đều vào ngày mồng tám, chỉ có niết-bàn lại vào ngày rằm? Thiện nam tử! Vào ngày rằm, mặt trăng không tròn không khuyết, chư Phật Như Lai cũng như thế, nhập đại niết-bàn không thiếu không dư. Vì ý nghĩa đó, nên Như Lai nhập niết-bàn vào ngày rằm”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Bấy giờ, bà-la-môn Hương Tính hỏi vua A-xà-thế:
- Phật đản sinh, thành đạo, nhập niết-bàn vào lúc nào?
Vua A-xà-thế nói:
- Phật đản sinh, thành đạo và nhập niết-bàn lúc sao Phí mọc.
- Thế Tôn đản sinh, xuất gia, tu khổ hạnh, thành đạo, nhập niết-bàn vào lúc nào?
- Thế Tôn đản sinh, xuất gia, tu khổ hạnh, thành đạo vô thượng và nhập niết-bàn đều vào lúc sao Phí mọc. Như Lai đản sinh, xuất gia tu khổ hạnh, thành đạo vô thượng và nhập niết-bàn đều vào ngày mồng tám. Như Lai đản sinh, xuất gia tu khổ hạnh, thành đạo vô thượng và nhập niết-bàn đều vào tháng hai”.
Có thuyết nói Như Lai đản sinh, xuất gia tu khổ hạnh, thành đạo vô thượng vào tháng hai, tháng tám Như Lai nhập niết-bàn.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Vào lúc sao Phí mọc, ngày mồng tám tháng hai, Phật thành Chính giác; cũng vào lúc sao Phí mọc, ngày mồng tám tháng hai, Ngài đản sinh. Vào lúc sao Phí mọc, ngày mồng tám tháng tám, Thế Tôn chuyển pháp luân lần đầu tiên và cũng vào ngày tháng này Ngài nhập niết-bàn”.
5.14.5. Đệ tử
Luận Trí Độ ghi: “Trường lão đại Ca-diếp kết tập ba tạng ở núi Kì-xà-quật, độ chúng sinh đáng độ xong rồi, theo Phật nhập niết-bàn. Sáng sớm, tôn giả mang bát vào thành Vương Xá, khất thực xong tôn giả trở về núi bảo với các đệ tử:
- Hôm nay ta muốn vào Vô dư niết-bàn.
Tất cả đệ từ nghe như thế đều buồn rầu. Buổi chiều, tôn giả Ca-diếp xuất định, đến chỗ đại chúng, nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã. Thuyết pháp xong, tôn giả nâng y tăng-già-lê do Đức Phật trao rồi ôm bình bát, chống tích trượng, như kim xí điểu bay vọt lên hư không hiện mười tám thứ thần biến. Đứng trên đỉnh núi Kì-xà-quật với đầy đủ y bát phát nguyện:
- Nguyện cho thân tôi chẳng hư hoại, lúc bồ-tát Di-lặc thành Phật, thân này mới xuất hiện.
Phát nguyện xong tôn giả đi thẳng vào lòng núi đá như vào trong bùn, vào xong, núi đá tự khép lại.
Người đời sau hưởng thọ tám vạn bốn nghìn tuổi, thân cao tám mươi thước. Thân Phật Di-lặc cao một trăm sáu mươi thước, mặt Phật dài hai mươi bốn thước, vòng hào quang rộng mười dặm. Lúc ấy chúng sinh nghe Phật ra đời, có vô lượng người theo Phật xuất gia”.
Kinh Đại bi ghi: “Do sức nguyện xưa, nên tôn giả Ca-diếp trụ giữa hư không. Sau khi hiện thần thông biên hỏa, tôn giả tự phát lừa đốt cháy thân mình, tuy thân đã cháy nhưng vẫn còn nguyên vẹn”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Tôn giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên vì không nỡ thấy Phật niết-bàn nên vào niết-bàn trước. Lại có bảy vạn a-la-hán đồng thời vào niết-bàn. Lúc ấy, bốn bộ đệ tử tâm trí hoảng loạn. Vì thế, Như Lai dùng sức thần thông hóa hai vị đệ tử đứng hai bên Phật. Vì nhân duyên đó khiến chúng sinh vui mừng, không còn sầu não. Phật lại thuyết pháp cho họ nghe, tất cả đều được lợi ích”.
5.15. KẾT TẬP PHÁP BẢO
5.15.1. Lời dẫn
Chân đế lắng sâu, pháp tính rỗng lặng. Nhưng giáo hóa chúng sinh mà không dùng ngôn từ thì thật khó độ. Vì thế, nói nín không hai đều hợp với nghĩa Không. Từ khi

Phần 3

đấng Năng Nhân thầy ta xuất hiện ở đời, chỉ một pháp âm vang lên mà ứng hợp với căn cơ của muôn loài. Đức Thế Tôn thuyết pháp đầu tiên nơi vườn Nai, dặn dò lần cuối tại Kim hà, dùng Khế kinh để dẫn dụ hàng thanh văn, thuyết Phương đẳng nhằm khuyến hóa bồ-tát. Giáo pháp phân thành mười hai bộ loại, tóm thâu pháp yếu hơn tám vạn môn. Đến khi đấng Thiện Thệ thị tịch, bậc ứng chân kết tập kinh tạng, đầu tiên bốn bộ A-hàm, lần kế kết thành năm bộ luật. Từ đây pháp bảo lưu hành ở đời. Chúng sinh để tâm nơi giáo pháp là vì muốn dứt trừ khổ đau, vì thế không thể nào truyền đạt sai sót lời Phật.
5.15.2. Kết tập kinh tạng
ở đây nói đủ bốn thời kết tập kinh tạng:
Thứ nhất, căn cứ vào hai bộ luận Trí độ và Kim cang tiên: Như Lai ở ngoài núi Tu-di cùng Văn-thù-sư-lợi và mười phương Phật kết tập pháp tạng Đại thừa.
Thứ hai, căn cứ vào kinh Bồ-tát xử thai và luật Tứ phần: Sau bảy ngày Như Lai nhập Niết-bàn, Đại Ca-diếp và năm trăm vị a-la-hán đi khắp mười phương thế giới chiêu tập tám ức tám nghìn hiền thánh cùng nhau kết tập ba tạng.
Thứ ba, căn cứ vào luận Trí độ: Sau khi Như Lai nhập niết-bàn, mười lăm ngày đầu an cư, Đại Ca-diếp cùng một nghìn vị a-la-hán kết tập tam tạng tại thành Vương Xá.
Thứ tư, căn cứ vào luật Tứ phần: Sau khi Như Lai nhập niết-bàn khoảng một trăm năm, tì-kheo Bạt-xà-tử chủ trương mười điều phi pháp; trưởng lão Đại Ca-diếp cùng bảy trăm a-la-hán kết tập tam tạng ở thành Tì-xá-li.
Sau đây căn cứ kinh điển lần lượt nêu rõ bốn lần kết tập trên. Mong những bậc trí đời sau không cần phải nghi ngờ đoán định thêm gi nữa.
5. 15.2.1. Kết tập Đại thừa
Luận Trí Độ và luận Kim cang tiên đều ghi: “Trong lần bồ-tát Văn-thù-sư-lợi kết tập có nói:
‘Ngoài thế giới này, Như Lai chẳng đến thế giới khác, cùng mười phương chư Phật hội họp thuyết pháp’. Đây cũng gọi là kết tập. Sau đó, bồ-tát Văn-thù tổ chức kết tập, ngài triệu tập vô lượng vô biên bồ-tát và đại a-la-hán, mỗi vị đều cho kinh này chính tôi nghe Phật thuyết. Như Tu-bồ-đề nói: ‘Tôi nghe Phật nói kinh Kim cang Bát-nhã’ Mỗi bộ kinh đều có một đệ tử nghe thì vị ấy nói ‘chính tôi được nghe’, nếu tất cả đều nghe thì tất cả cùng nói như thế. Vì thế nên biết, chẳng phải chỉ riêng ngài A-nan nghe kinh, nhưng ngài A-nan thì nghe hết các kinh, còn các đệ tử khác thì chỉ nghe một phần mà thôi”,
Kinh Niết-bàn ghi: “Đại Thánh thuyết pháp đã có ba thừa, người truyền pháp lại có ba tên gọi. Một là A-nan-đà, Trung Hoa dịch là Hoan Hỉ, tôn giả truyền giữ tạng pháp Tiểu thừa. Hai là A-nan-đà-bạt-đà, Trung Hoa dịch là Hoan Hỉ Hiền truyền giữ pháp tạng Trung thừa. Ba là A-nan-đà Sa-già-la, Trung Hoa dịch là Hoan Hỉ Hải, truyền giữ pháp tạng Đại thừa. Ba tên gọi tuy khác nhau, nhưng chỉ một người”. Nên kinh Duy-ma ghi: “Xá-lợi-phất hỏi thiên nữ:
- Trong ba thừa, ngươi học thừa nào?
Thiên nữ đáp:
- Nếu cần dùng pháp Tiểu thừa để hóa độ, tôi làm thanh văn. Nếu cần dùng pháp Trung thừa để hóa độ, tôi làm duyên giác. Nếu cần dùng pháp Đại thừa dê hóa độ, tôi làm bồ-tát”.
Vì thế nên biết, A-nan là người gìn giữ chung cả pháp Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Trong ba người truyền, hai người trước thuộc thân văn và truyền văn, nên trong lúc kết tập tôn giả A-nan thăng tòa trùng tuyên lời Phật dạy.
Luận Trí độ cỏ bài kệ:
Phật thuyết pháp lần đầu
A-nan chưa được nghe
Sau đó được nghe lại.
Phật đến Ba-la-nại
Nói pháp Tứ diệu đế
Cho năm vị tì-kheo.
Tuy thế chẳng nên cho rằng tất cả đều thân văn, vì A-nan thứ ba gọi là thường văn.
5.15.2.2. Lần kết tập có năm trăm hiền thánh
Kinh Bồ-tát xử thai ghi:
- Sau bảy ngày Phật nhập niết-bàn, tôn giả Đại Ca-diếp gõ kiền chùy tập hợp năm trăm vị a-la-hán dặn: “Các vị hãy đi khắp thế giới chư Phật trong mười phương, triệu tập các vị a-la-hán chứng đắc lục thông đến Sa-la song thụ ở cõi Diêm-phù-đề và nói ràng: ‘Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã diệt độ, đang xây tháp bảy báu. Nay triệu tập các vị để tuyên bảy pháp thân chân tính. Các vị hãy mau đến để nghe nhận pháp âm vi diệu!’. Bấy giờ, năm trăm vị a-la-hán nhận lời tôn giả Đại Ca-diếp, trong chớp mắt liền đến hằng hà sa cõi nước trong mười phương triệu tập được tám ức tám nghìn a-la-hán. Đại chúng tập hợp ờ cõi Ta-bà để nghe nhận pháp âm.
Luật Tăng-kì ghi: “Bấy giờ, tôn giả Đại Ca-diếp bảo các tì-kheo:
- Chúng ta nên kết tập pháp tạng chớ để Phật pháp hủy diệt.
Mọi người muốn đến những chỗ khác để kết tập pháp tạng, tôn giả Ca-diếp bảo:
- Chúng ta hãy đến thành Vương Xá, vì nơi đó đã có sẵn ngọa cụ cho năm trăm vị.
Đại chúng đồng ý. Tôn giả Đại Ca-diếp lại sai A-na-luật gìn giữ xá-lợi Phật, chớ để chư thiên mang đi. Vì trong thời quá khứ, lúc Phật Ca-diếp diệt độ, đệ tử chỉ biết đau buồn nên chẳng hay chư thiên mang xá-lợi Phật đi mất. Do đó nhân gian chẳng được cúng dường xá-lợi của Phật.
Tôn giả A-nan cũng không đến nơi kết tập. Tôn giả Ca-diếp cùng một nghìn người thỉnh xá-lợi cùa Thế Tôn đến núi Sát-đế thuộc thành Xá-vệ để cúng dường. Thế rồi đại chúng trải tòa đức Thế Tôn ở giữa, bên trái trải tòa tôn giả Xá-lợi-phất, bên phải trải tòa tôn giả Đại Mục-kiền liên, kế đến là tòa của tôn giả Đại Ca-diếp, rồi theo thứ tự là tòa của các vị khác. Bốn tháng kết tập kinh điển, mọi người dứt hẳn các duyên bên ngoài, nhưng thiếu hai vị mới đủ số năm trăm. Sau đó, tôn giả A-na-luật lại đến, chỉ còn thiếu một người. Tôn giả Ca-diếp bảo đệ tử của ngài Mục-kiền-liên là a-la-hán Lê-ba-đề:
- Ông hãy đến cõi trời Ba Mươi Ba gọi a-la-hán Đề-na về.

Phần 4

Tôn giả Đề-na nghe tin Phật nhập niết-bàn, không nỡ nhìn Phật diệt độ nên vào diệt độ trước. Tôn giả Ca-diếp lại sai a-la-hán Lê-ba-đề đến cung Thi-lợi-sa-sí gọi a-la-hán Kiều-phạm-ba-đề, cho đến tới thiên cung Tì-sa-môn để gọi a-la-hán Tu-mật đa, nhưng tất cả đều đã diệt độ”.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Bấy giờ, tôn giả Ca-diếp thấy đại chúng đã vân tập, nên bảo tôn giả Ưu-ba-li:
- Ông làm duy-na gọi A-nan đến!
Tôn giả ưu-ba-li vâng lệnh đến gọi A-nan. Tôn giả Ca-diếp trách A-nan không thỉnh Phật kéo dài tuổi thọ... A-nan cảm thấy bất an nên suy nghĩ: “Phật diệt độ chưa lâu mà ta đã bị như thế’. Lúc ây, A-nan liền tư duy pháp tứ đế, ngay trước đại chúng chứng quả A-la-hán, các trần cấu đã dứt, rỗng rang đại ngộ, được thánh chúng khen ngợi, chư thiên tán thán, mặt đất chấn động sáu cách. Tôn giả Ca-diếp liền bảo A-nan bước lên tòa cao bằng bảy báu rồi dặn dò:
- Pháp Phật nói ra, mỗi lời mỗi chữ ông chớ để thiếu sót. Nay ông nên kết tập các tạng Bồ-tát, tạng Thanh văn, tạng Giới luật thành từng tạng riêng biệt.
Thế là trước tiên A-nan nói tạng kinh, thứ nhất là tạng Thai hóa, kế đến là tạng Trung ấm, thứ ba là tạng Ma-ha-diễn Phương đẳng, thứ tư là tạng Giới luật, thứ năm là tạng Thập trụ bồ-tát, thứ sáu là Tạp tạng, thứ bảy là tạng Kim cang, thứ tám là Phật tạng. Đó là đầy đủ tạng pháp của Phật Thích-ca Văn.
Lúc ấy, tôn giả A-nan xướng:
- Đúng thật như thế, chính tôi được nghe: “Một thời...”. Vừa nghe A-nan xướng lên như thế, tôn giả Ca-diếp và tất cả thánh chúng khóc thương rơi lệ, không kềm chế được. Than ôi! Già chết như huyễn như hóa, hôm qua vừa mới gặp Phật mà hôm nay đã nói “Chính tôi được nghe”.
Luật Tứ phần ghi: “Thế Tôn nhập niết-bàn ở rừng Sa-la tại thành Câu-thi-na, nước Mạt-la. Người dân Mạt-na tắm gội thân Phật rồi chuẩn bị trà-tì. Trà-tì xong, tôn giả Đại Ca-diếp tập hợp các tì-kheo và bảo:
- Chúng ta nay cùng bàn về giới luật, chớ để ngoại đạo dùng lời vô căn cứ chê bai: “Pháp luật của sa-môn Cù-đàm bị mai một. Lúc Thế Tôn còn tại thế, mọi người cùng học giới mà nay sau khi Ngài diệt độ thì không có người học giới”. Các trưởng lão có thể triệu tập các tì-kheo a-la-hán đa văn trí tuệ.
Lúc ấy, triệu tập được bốn trăm chín mươi chín vị. Các tì-kheo đồng nói:
- Nên triệu tập A-nan ở trong số này.
Đại Ca-diếp bảo:
- A-nan không được dự trong số này. Vì sao? Vì A-nan còn si, ái, sân hận, sợ hãi.
Các tì-kheo nói:
- A-nan là thị giả của Phật, thường đi theo Phật, gần gũi nhận lãnh giáo pháp từ đức Thế Tôn, nhất định được Thế Tôn giải quyết những điều nghi trong giáo pháp, vì thế nên cho A-nan dự vào. Đại chúng liền bảo A-nan dự vào số tì-kheo kết tập kinh điển.
Lúc ấy, các tì-kheo đều nghĩ: ‘Ở nơi nào thức ăn sung túc, không thiếu ngọa cụ để chúng ta kết tập pháp tì-ni?’. Đại chúng đều xác định: ‘Chỉ có thành Vương Xá mới đầy đủ phòng xá, ngọa cụ, thức ăn, chúng ta nên đến đó để kết tập tạng Tì-ni’. Tôn giả Đại Ca-diếp liền bạch chúng nên kết tập ở thành Vương Xá.
Bấy giờ, đang đi trên đường vắng, tôn giả A-nan nghĩ: ‘Giống như con bê mới sinh còn phải uống sữa mà cùng đi với năm trăm con trâu lớn. Ta cũng như thế, là bậc hữu học mà cùng đi với năm trăm vị a-la-hán’. Thế là đại chúng và A-nan đều đến Tì-xá-li. Lúc ấy, tăng tục tụ tập đông đảo thăm hỏi A-nan. Trong đó tì-kheo Bạt-xà-tử là bậc có đại thần lực, đã đắc thiên nhãn, biết tâm trí của người khác. Vị ấy quán sát thấy A-nan còn là bậc hữu dục chưa phải bậc vô dục nên nghĩ: ‘Nay ta nên giúp A-nan khởi tâm li dục’, liền nói kệ:
Nơi gốc cây vắng lặng
Tư duy pháp Niết-bàn
Ngồi thiền chớ phóng dật
Nói nhiều có ích gì
A-nan nghe kệ, một mình đi đến chỗ vắng, tinh tiến tu tập không phóng dật, đạt được trạng thái rỗng lặng vô dục. Quá mỏi mệt vì trong đêm đã đi kinh hành nhiều, vào lúc ánh dương vừa hé, tôn giả định nằm xuống. Trong khoảng thời gian đầu chưa chạm gối, A-nan đạt được vô lậu giải thoát. Đó là pháp chưa từng có mà A-nan đã chứng đắc. Sau khi đã đắc quả A-la-hán, tôn giả liền nói kệ:
Đa văn học rộng nhiều
Thường thị giả Thế Tôn
Đã đoạn được sinh tử
Cù-đàm nay muốn nằm.
Bấy giờ, tôn giả Đại-ca-diếp tập chúng tì-kheo tăng bạch yết-ma kết tập tạng luật. Tôn giả A-nan từ tòa đứng dậy, để lộ vai phải, gối phải quì xuống, chắp tay bạch Đại Ca-diếp:
- Con đích thân nghe nhớ được lời Phật dạy, bắt đầu từ thiên thứ nhất, cho đến tất cả các kiền-độ tì-ni tăng nhất, kết tập thành tạng Tì-ni. Những bộ kinh dài kết tập thành Trường A-hàm, những bài kinh trung bình kết tập thành Trung A-hàm, những bài kinh nói từ một việc cho đến mười việc, từ mười việc cho đến mười một việc kết tập thành Tăng nhất A-hàm. Kết tập các việc khác thành Tạp A-hàm. Như kinh Bản sinh, Bản sự cho đến kệ kinh tập thành Tạp tạng. Những phần luận thuyết do nạn vấn hay không dọ nạn vấn mà có sự liên quan, thích hợp thì tập thành tạng A-tì-đàm. Thế rồi, đại hội kết tập thành ba tạng tại thành Vương Xá. Vì có năm trăm a-la-hán cùng kết tập tạng Tì-ni nên nói kết tập Tì-hi tạng có năm trăm vị”.
5.15.2.3. Lần kết tập có một nghìn a-la-hán
Luận Trí Độ ghi: “Bấy giờ, Phật đã nhập niết-bàn, Đại Ca-diếp suy nghĩ: ‘Ta làm sao giúp cho Phật pháp vô lượng kiếp khó gặp trụ lâu dài ở thế gian? Cần phải kết tập ba tạng thì mới có thể khiến cho Phật pháp trụ lâu dài ở thế gian, cũng để cho tất cả chúng sinh đời vị lai lãnh thụ’. Thế là, tôn giả Đại Ca-diếp đứng trên đỉnh núi Tu-di, gõ kiền chùy nói kệ:
Hỡi các đệ tử Phật!
Nếu nhớ ơn Thế Tôn

Phần 5

Hãy cùng nhau báo án
Chớ nên vào niết-bàn.
Tiếng kiền chùy làm cho lời của tôn giả Đại Ca-diếp vang khắp đại thiên thế giới, tất cả chúng sinh đều nghe biết. Một nghìn đệ tử có thân thông đều đến vân tập ở chỗ tôn giả Đại Ca-diếp; trừ tôn giả A-nan, còn tât cả đều là bậc a-la-hán. Những vị ấy biết nội kinh ngoại điển, cùng mười tám bộ loại kinh lớn cùa các ngoại đạo, có thể luận nghị hàng phục các học phái khác.
Tôn giả Đại Ca-diếp nói:
- Ngày trước tôi đi khất thực, thường có các ngoại đạo cô đến gạn hỏi những khiếm khuyết trong pháp sự. Nay thành Vương Xá thường chỉ cúng dường thức ăn cho một nghìn người, không thể nhiều hơn. Tôi sẽ nói với vua A-xà-thế hằng ngày cho người mang thức ăn đến cúng dường chúng ta, các vị chẳng nên đi nơi khác. Ở đây an cư ba tháng, mười lăm ngày đầu thuyết giới, nhóm tăng yết-ma hòa hợp.
Tôn giả Đại Ca-diếp nhập định dùng thiên nhãn xem trong chúng ai còn hữu lậu để mời ra ngoài, thì thấy chỉ có A-nan là chưa sạch phiền não, còn chín trăm chín mươi chín vị khác các lậu đã sạch, thanh tịnh không nhiễm. Tôn giả Đại Ca-diếp xuất định, gọi A-nan đến bảo:
- Nay trong chúng tất cả đều thanh tịnh để kết tập kinh tạng, riêng ông chưa sạch phiền não, chẳng nên ở đây.
Nghe vậy, A-nan hổ thẹn, buồn tủi thầm khóc và suy nghĩ: “Hai mươi lăm năm làm thị giả Thế Tôn, chưa có bao giờ ta nghe những lời khô não như thế này, Phật đúng là bậc đại đức, từ bi bao dung vô lượng”. Thế là, tôn già A-nan thưa Đại Ca-diếp:
- Con có khả năng đắc đạo từ lâu, nhưng theo phép tắc của chư Phật, bậc a-la-hán không được làm thị giả. Do đó, con còn giữ lại một chút kết sử để hầu hạ Đức Phật.
Đại Ca-diếp nói:
- Ông còn có tội là Phật không muốn cho người nữ xuất gia, ông lại năn nỉ, cầu thỉnh. Phật vì đạo mà chấp nhận, do đó thời Chính pháp mất đi năm trăm năm. Ông phải sám hối tội Đột-ca-la
A-nan đáp:
- Vì con thương xót Cù-đàm di. Hơn nữa pháp Phật trong ba đời đều có bốn bộ chúng, sao riêng Đức Phật Thích-ca Văn chúng ta không có?
Đại Ca-diếp bảo:
- Lúc sắp vào niết-bàn, Phật đang ở gần thành Câu-di-na-kiệt, vì đau lưng nên Ngài gấp uất-đa-la-tăng trải nằm và bảo ông: ‘Ta muốn dùng nước’, nhưng ông không dâng nước, đó là phạm tội đột-cát-la.
A-nan đáp:
- Lúc ấy có năm trăm chiếc xe đi qua làm cho nước đục, nên con không lấy nước dâng Phật.
Đại Ca-diếp bảo:
- Giả như nước đục thì Phật có đại thần lực có thể khiến nước của biển lớn thành trong sạch, nhưng tại sao ông không lấy nước dâng cho Phật? Đó là tội, ông phải sám hối tội Đột-cát-la.
Đại Ca-diếp bảo:
- Phật nói với ông, nếu có người đạt tứ thần túc khéo tu có thể trụ một kiếp hoặc ít hơn một kiếp. Nay bậc Đa-đà-a-già-độ là bậc tứ thần túc, khéo tu có thể trụ một kiếp hoặc ít hơn một kiếp, nhưng lúc đó ông lại im lặng không đáp. Phật nói với ông ba lần mà ông vẫn im lặng. Nếu ông thỉnh cầu thì Phật có thể trụ một kiếp hoặc ít hơn một kiếp. Vì ông im lặng nên Phật Thế Tôn sớm nhập niết-bàn. Ông phải sám hối tội Đột-cát-la.
A-nan đáp:
- Lúc ấy ma che mờ tâm, nên con im lặng, chứ chẳng phải con có tâm xấu!
Đại Ca-diếp lại nói:
- Ông gấp tăng-già-lê cho Phật mà lại đạp chân lên, đó là tội. Ông nên sám hối tội Đột-cát-la.
A-nan đáp:
- Lúc ấy gió lớn, con cầm y mà không có người giúp, nên gió thổi làm rơi xuống bàn chân, chẳng phải con bất kính mà đạp lên y Phật.
Đại Ca-diếp nói:
- Phật có tướng âm tàng, sau khi Phật nhập niết-bàn, ông để cho người nữ thấy tướng mã âm tàng của Phật. Như thế thật đáng thẹn, ông nên sám hối tội Đột-cát-la.
A-nan thưa:
- Lúc ấy con suy nghĩ: ‘Nếu người nữ thấy tướng âm tàng của Phật thì sẽ tự xấu hổ thân nữ mà muốn được thân nam, phát tâm tu hành các tướng quí của Phật, trồng các cội công đức’. Vì thế nên con cho người nữ thấy, chẳng phải không biết thẹn cố ý phá giới.
Đại Ca-diếp nói:
- Ông có sáu tội Đột-cát-la này, nên phải sám hối trước tăng chúng.
A-nan đáp:
- Thưa vâng!
Theo lời dạy của trưởng lão Đại Ca-diếp và chư tăng, tôn giả A-nan cởi dép, bày vai phải, quì gối chắp tay sám hối sáu tội Đột-cát-la. Ở trong tăng chúng, Đại Ca-diếp xua tay bảo A-nan ra ngoài và nói:
- Khi nào ông đoạn sạch các phiền não rồi hãy vào, nếu chưa sạch thì chớ vào._Nói xong liền đóng cửa.
Bấy giờ, các a-la-hán luận bàn:
- Ai là người có thể kết tập tạng pháp Tì-ni?
Trưởng lão A-nê-lô-đậu nói:

Phần 6

- Xá-lợi-phất là thân thứ hai của Phật. Tôn giả có một vị đệ tử tài giỏi là Kiều-phạm-ba-đề tâm ý nhu hòa, thường ở chỗ vắng, trụ tâm tĩnh lặng, thông đạt tạng pháp tì-ni, nay đang ở tại vườn Thi-lợi-sa trên trời, nên sai người thỉnh về.
Đại Ca-diếp nói với một vị tì-kheo hạ tọa:
- Ông nên thuận theo tăng sai!
Vị tì-kheo ấy vô cùng vui mừng nhận tăng sai, bạch Đại Ca-diếp:
- Con đến nơi ấy nên trình bạch như thế nào?
Đại Ca-diếp bảo:
- Ồng đến nơi ấy thưa với tôn giả Kiều-phạm-ba-đề rằng: ‘Các vị a-la-hán như Đại Ca-diếp... đều nhóm họp ở cõi Diêm-phù-đề, tăng có pháp sự lớn, tôn giả hãy mau đến!’.
Vị tì-kheo ấy đỉnh lễ chư tăng, nhiễu ba vòng rồi như chim đại bàng bay vào hư không đến đỉnh lễ nơi chân tôn giả Kiều-phạm-ba-đề, thưa lại lời tôn giả Đại Ca-diếp. Bấy giờ, tôn giả Kiều-phạm-ba-đề sinh nghi nên hỏi:
- Chẳng lẽ tăng đấu tranh nên gọi tôi? Chẳng lẽ có người phá tăng? Phật diệt độ rồi sao?
Vị tì-kheo ấy đáp:
- Phật đã diệt độ.
Kiều-phạm-ba-đề nói:
- Phật diệt độ nhanh quá, mắt sáng trong thế gian đã diệt! Vị đại tướng quân theo Phật chuyển pháp luân là hòa thượng Xá-lợi-phất thầy ta, nay ở đâu?
Đáp: Tôn giả Xá-lợi-phất đã nhập niết-bàn trước Phật
Kiều-phạm-ba-đề nói:
- Những bậc đại tướng pháp sư đã tự ra đi, nay biết làm sao? Tôn giả Ma-ha Mục-kiền-liên nay ở nơi nào
Đáp: Tôn gỉả cũng đã diệt độ!
Kiều-phạm-ba-đề nói:
- Ôi, các đại đệ tử của Phật đã diệt độ! Phật pháp sắp suy tàn, chúng sinh đáng thương xót
Thế rồi tôn giả Kiều-phạm-ba-đề lần lượt hỏi thăm các vị a-la-hán khác. Tôn giả lại nói:
- Những bậc đại sư li dục đều đã diệt độ, ta chẳng thể xuống Diêm-phù-đề mà ở đây vào niết-bàn.
Nói xong, tôn giả hiện mười tám thứ thần biến, từ quả tim phát ra lửa thiêu thân, rồi từ thân có bốn dòng nước chảy xuống đến chỗ tôn giả Đại Ca-diếp, từ trong dòng nước có tiếng nói kệ:
Kiều-phạm-ba-đề thành kính lễ
Bậc đại đức đứng đầu chúng tăng
Phật đã diệt độ, tôi cũng diệt
Voi con theo mẹ cũng phải thôi!
Thế rồi, vị tì-kheo ấy mang y bát của Kiều-phạm-ba-đề trở về.
Lúc này, A-nan đang tư duy các pháp, mong trừ sạch những lậu kết còn lại, đêm ấy tôn giả tinh tiến tọa thiền, kinh hành cầu đạo. Tôn giả A-nan trí tuệ nhiều, nhưng định lực ít, nên không thể nhanh chóng đắc đạo. Khi định lực và trí tuệ quân bình thì mới mau chóng đắc đạo. Đêm sắp qua, vì quá mỏi mệt tôn giả muốn nghỉ ngơi liền nằm xuống gối, nhưng trong lúc đầu chưa chạm gối thì bỗng nhiên đạt ngộ. Như ánh chớp xuất hiện thì người trong đêm tối thấy rõ con đường, tôn giả liền nhập vào định kim cang phá hết thảy núi phiền nào, chứng đắc lục thông.
Ngay đêm ấy tôn già đến gõ cửa tăng đường. Đại Ca-diếp hỏi:
- Ai đó?
- Con là A-nan!
Đại Ca-diếp nói:
- Ông đến đây có việc gì?
- Đêm nay con đã đoạn sạch các phiền não. _ A nan.
Đại Ca-diếp nói:
- Không ai mở cửa cho ông đâu, ông hãy vào từ lỗ khóa.
- Thưa vâng!
Tôn giả liền dùng thần lực xuyên qua lỗ khóa vào bên trong, lễ bái sám hối chúng tăng. Đại Ca-diếp và chúng tăng thảy đều vui mừng. Đại Ca-diếp đưa tay xoa đầu A-nan nói:
- Ta cố ý làm cho ông sớm chứng đắc đạo quả, chứ chẳng có ý gì khác, ông chớ nên hận ta. Thí- như đưa tay vạch trong hư không, chẳng để lại dấu vết gì, tâm của bậc a-la-hán cũng như thế, không nhiễm trước tất cả các pháp. Ông hãy ngồi vào chỗ của mình.
Bấy giờ chư tăng lại bàn:
- Kiều-phạm-ba-đề đã diệt độ, ai có thể kết tập kinh tạng?
Trưởng lão A-nê-lô-đầu nói:
- Trưởng lão A-nan làm thị giả, thường thân cận nghe Phật nói pháp, có thể ghi nhớ nên được Phật thường khen ngợi. A-nan có thể kết tập kinh tạng
Bấy giờ, trưởng lão Đại Ca-diếp xoa đầu A-nan nói:
- Phật giao phó cho ông giữ gìn pháp tạng, ông nên báo ân Phật. Phật thuyết pháp đầu tiên ở nơi nào? Các đệ tử Phật, người có thể hộ trì pháp tạng đều đã diệt độ chỉ còn mình ông. Nay ông nên theo ý Phật, thương xót chúng sinh mà kết tập pháp tạng.
A-nan đỉnh lễ chúng tăng rồi ngồi vào tòa sư tử. Lúc ấy, Đại Ca-diếp nói kệ:
Phật, bậc Sư Tử vương
A-nan đệ tử Ngài
Ngồi vào tòa sư tử
Nhìn khắp không thấy Phật.

Phần 7

Chúng đại đức như thế
Không có uy thần Phật
Như vào đêm không trăng
Không gian đều tăm tối.
Pháp mà chư Phật dạy
Phật tử, ông nên nói
Phật thuyết pháp đầu tiên
Nơi nào? Hãy trình bày.
Bấy giờ, trường lão A-nan chấp tay nhất tâm hướng về chỗ Phật nhập niết-bàn, nói kệ:
Phật thuyết pháp lần đầu
Lúc ấy con chưa có
Sau con được nghe lại
Phật ở Ba-la-nạỉ
Lần đầu nói pháp mầu
Cho năm vị tì-kheo
Ngài nói pháp Tứ đế
Khổ, tập, diệt và đạo.
A-nhã Kỉều-trần-như
Người đầu tiên thấy đạo
Và tám vạn chư thiên
Nghe pháp được tỏ ngộ.
Lúc ấy, một nghìn vị a-la-hán nghe A-nan nói kệ, liền vọt lên hư không cao bằng bảy cây đa-la và nói rằng:
- Than ôi! Vô thường quá mau chóng, chúng ta mới vừa thấy Phật thuyết pháp mà nay có người nói: ‘Chính tôi được nghe’, các vị liền nói kệ:
Con thấy thân tướng Phật
Như núi sắc vàng tía
Ngài đã vào diệt độ
Chỉ còn tên gọi thôi.
Vì thế nên khéo tu
Cầu ra khỏi ba cõi
Siêng chứa các pháp lành
Niết-bàn an lạc nhất.
Trưởng lão A-nê-lô-đậu nói kệ:
Ôi! Thế gian vô thường
Như thủy nguyệt, ba tiêu
Công đức đầy ba cõi
Gió vô thường thổi bay.
Tôn giả Đại Ca-diếp lại nói kệ:
Sức vô thường lớn quá
Ngu, trí, nghèo, giàu sang
Đắc đạo, chưa đắc đạo
Không ai thoát ra khỏi
Lời hay và của báu
Gian dối, sức tranh đoạt
Không thể nào tránh được
Như lửa thiêu vạn vật
Pháp vô thường cũng thế ”
5.15.2.4. Bảy trăm vị a-la-hán kết tập
Luật Tứ phần ghi: “Sau khi Thế Tôn nhập niết-bàn một trăm năm, tì-kheo Bạt-xà-tử ở thành Tì-xá-li nêu lên mười pháp rồi nói đó là pháp thanh tịnh Đức Phật cho phép:
1. Bóng mặt trời nghiêng qua hai ngón tay vẫn có thể thụ thực.
2. Khất thực ở tụ lạc này rồi, có thể đến tu lạc khác khất thực.
3. Ở trong một chùa có thể bố-tát hai chỗ khác nhau.
4. Khi xử đoán một việc, dự biết số tì-kheo vắng mặt đồng ý mới yết-ma.
5. Tùy thuận phép tắc đã bày từ trước.
6. Sau khi ăn xong, được uống sữa bò không pha chế.
7. Có thể dự trữ muối để sử dụng ngày sau.
8. Được uống xà-lâu-la chưa lên men hoặc mới lên men.
9. Được viền quanh tọa cụ và may lớn nhỏ tùy ý.
10. Được nhận vàng bạc. Ngày bố-tát, nếu đàn việt cúng dường vàng bạc thì được nhận và phân chia.
Như thế, tăng chúng phân tích, kiểm tra từng điều, cho đến mười điều đều không đúng luật, chẳng phải điều Phật dạy. Tại Tì-xá-li, có bảy trăm a-la-hán kết tập luận pháp Tì-ni”.
Đạo Tuyên luật sư Cảm ứng kí ghi: “Luật sư hỏi một vị trời:
- Sau khi Thế Tôn diệt độ, nghi thức kết tập pháp tạng như thế nào?

Phần 8

Vị trời đáp:
- Bậc Đại thánh ẩn hiện tùy căn cơ chúng sinh, Ngài để lại ba tạng kinh điển, sau đó do chúng đệ tử kết tập. Số người kết tập nhiều ít, luật và luận nói chẳng đồng. Như luật nói, kết tập tam tạng có năm trăm hay bảy trăm a-la-hán đều do ngài Đại Ca-diếp làm chủ tọa”.
Luận Trí độ ghi: ‘Tuyển chọn một nghìn bậc vô học kết tập ba tạng. Sau khi kết tập xong, mới triệu tập chúng bên ngoài trình bày lại ba tạng đã kết tập. Vì trong số chúng có người bất đồng nên phân thành hai bộ. Số người theo ngài Ca-diếp gọi là Thượng Tọa bộ, sô còn lại nhiều hơn gọi là Đại Chúng bộ”.
Kinh Văn-thù vấn ghi: “Phân thành hai bộ là do nguyên nhân như trên. Đại thừa và Tiểu thừa đều đồng nhất quan điểm ba tạng là do A-nan kết tập và nơi kết tập cũng thống nhất là ở thành Vương Xá.
Song căn cứ vào thuyết đức Văn-thù nhóm họp đại chúng để lược kết tập kinh Đại thừa thì địa điểm kết tập tại núi Đại Thiết Vi nằm giữa hai cõi Dục và cõi Sắc.
Nay thuyết minh về nghi thức kết tập:
Phật diệt độ trải qua một tháng, đại chúng cúng dường rồi mới làm lễ trà-tì. Ngay sau khi trà-tì liền thâu lấy xá-lợi và an trí vào tháp. Sau đó, tất cả đại chúng đều vân tập đến tinh xá Kì-hoàn nước Xá Vệ. Tôn giả Đại Ca-diếp sai Tiểu Mục-liên thỉnh chuông tập chúng trong giới trường của tăng.
Bấy giờ trăm ức thánh tăng, phàm tăng trong tứ thiên hạ đều vân tập. Tôn giả Ca-diếp bèn bạch tứ yết-ma trách tội Tân-đầu-lô và A-nan. Thế rồi, A-nan ngồi trên tòa cao đắp y tăng-già-lê của Phật, đầu tiên tụng kinh Di giáo, nghi tướng giống như Phật còn tại thế. Lúc ấy, đại bồ-tát, a-la-hán, tất cả tì-kheo, tám bộ như trời rồng... đều khóc nức nở không thể kềm lòng.
Tôn giả Ca-diếp đứng dậy, đắp tăng-già-lê, tay cầm ni-sư-đàn, đến trước tòa cao, trải tọa cụ lễ A-nan rồi theo phía phải nhiễu ba vòng, sau đó đứng yên. Bấy giờ, vua trời Đại Phạm đem bảo cái bằng bảy báu che tôn giả A-nan. Trời Đế Thích dâng bàn bảy báu đặt trước A-nan. La-hầu a-tu-la vương dâng một lò hương bằng bảy báu, A-nan nhận lò hương rồi đặt trên bàn bảy báu. Vua trời Tha Hóa dâng ghế bảy báu đặt phía sau bàn. Lúc ấy, ma vương Ba-tuần trao phất trần bảy báu cho A-nan. Đe Thích đứng hầu hai bên, bốn vị thiên vương đứng hầu bốn góc tòa. Ba mươi hai sứ giả cõi trời đứng sau tôn giả Ca-diếp. Tất cả đều trang nghiêm cung kính, quì gối lắng nghe.
Tôn giả Đại Ca-diếp đỉnh lễ A-nan rồi nhiễu ba vòng, đến trước thăm hỏi A-nan giống như thăm hỏi Đức Phật. Sau đó, tộn giả hỏi những vấn đề như những chỗ khác đã nói. Tôn giả A-nan trả lời, mỗi mỗi đều nương vào kinh điển và bắt đầu bằng từ ‘như thị’ cho đến cuối cùng là ‘hoan hỉ phụng hành’.
Tôn giả Ca-diếp lại hỏi:
- Kinh của chư Phật quá khứ nói đều phân thành bộ loại, ông ở gần bên Phật có nghe Phật dạy về điều ấy không?
Tôn già A-nan đáp:
- Tôi nghe Phật dạy rằng: “Chúng sinh đời mạt pháp phiền nẳo sâu dày chẳng thể hiểu được giáo pháp của Ta, nên chảng cần phân bộ loại. Ông hãy trùng tuyên lại cho rõ ràng, tùy ý săp đặt hoặc năm chương hoặc mười chương, giúp cho người độn căn dễ hiểu được pháp của Ta’.
Tôn giả Ca-diếp lại hỏi:
- Lúc còn trụ thế, Như Lai dạy Ưu-ba-li và Đại Ca-diếp vào lầu báu ở phía đông giảng đường xem tạng Tì-ni của Phật xưa và để thấy những điểm bất đồng. Nay tôi muốn kết tập kinh điển, vậy nên y cứ giáo của Phật xưa hay lời Thế Tôn hôm nay?
- Tôi nghe đức Thế Tôn nói với Đại Ca-diếp: ‘Nếu kết tập Tì-ni, nên phân thành năm bộ. Chư Phật xưa nói Tì-ni chỉ một bộ, không có hai bộ. Nay chúng sinh phúc mỏng nên nói nhiều bộ. Sau khi Ta diệt độ, người ngu vô trí chia giáo pháp của Ta thành năm bộ, mười tám bộ, cho đến năm trăm bộ. Tuy pháp vị đã nhạt, nhưng vẫn là chính pháp của ta’.
Bấy giờ, Phật bảo bốn vị thiên vương:
- Các ông cúng dường mã não cho ta.
Ngài lại bảo Đế Thích:
- Ông cúng dường vàng bạc cho ta.
Lại bảo ma vương, Phạm vương:
- Các ông cúng dường thợ giỏi cõi trời cho ta.
- Lại bảo long vương Tu-cát, A-tu-la vương La-hầu:
- Các ông cúng dường bảo châu minh nguyệt, châu ma ni v.v... để làm đèn tháp.
Tất cả trời, rồng... đều vâng lời cúng dường. Thế Tôn nhận rồi dùng thần lực của mình, ở trong chớp mắt đã tạo thành các tháp. Lúc ấy, mặt đất sáu cách chấn động, tháp phóng ánh sáng rực rỡ từ Hương Sơn cho đến giới đàn, ánh sáng hóa thành đài vàng đài bạc cao đến trời Hữu Đỉnh. Trong đó có trăm ức Phật nói diệu pháp thù thắng, khen ngợi công đức trì giới và nói tội lỗi của người phá giới.
Phật bảo A-nan:
- Những tháp báu ấy nay vẫn còn tại Hương sơn. Lúc niết-bàn, Thế Tôn dặn dò Đế Thích cho đến Tứ thiên vương: ‘Sau khi Thế Tôn niết-bàn thì thỉnh tháp đến giới đàn, an trí chín mươi ngày bên ngoài rừng Nam Hoa, đợi Ca-diếp kết tập hoàn thành ba tạng. Bản thảo ba tạng đầu tiên đưa cho vua A-xà-thế chép thành năm bản. Dùng ấn vàng và ấn bạc của ta đóng vào bản đầu của Ca-diếp và những bản của vua A-xà-thế. Dùng ấn bảy báu đóng vào bản thảo của Ca-diếp. Kế đến dùng ấn bảy báu đóng vào bản kinh do ma vương chép. Dùng ấn bạc đóng vào ba bản kinh do Phạm vương chép. Dùng ấn vàng đóng vào bảy bản kinh do Đế Thích chép. Còn tám vạn bản của vua rồng Sa-kiệt chép, dùng đủ cà ba loại ấn để đóng vào, lưu hành ở Diêm-phù-đề và ba thiên hạ. Đóng dấu vào kinh xong, bỏ ấn vào bình vàng.
Sở dĩ đặt tháp ở phía nam giới đàn, là nhằm giúp cho văn nghĩa của ba tạng do ngài Ca-diếp kết tập được hoàn chỉnh, cũng vì để A-nan tùy theo câu hỏi mà trùng tuyên kinh không bị quên sót. Bởi hai việc ấy nên đặt tháp trấn ở phía nam giới đàn.
Sau khi tôn giả Ca-diếp nhập định, bốn vị thiên vương và Đế Thích đem tháp và bình vàng đến đỉnh Hương sơn. Trải qua một trăm năm, hằng ngày Đế Thích và các thiên vương trỗi thiên nhạc cúng dường pháp. Vì ở núi này có tám vạn vị tiên chứng ngũ thông, các vị ấy lần lượt làm vua các nước nhỏ ở châu Diêm-phù-đề. Vì

Phần 9

khiến cho người không tin chính pháp phát khởi niềm tin, vì chuyển đổi tà kiến của vua A-dục ban đầu không tin giáo pháp của Ta, giúp vua sinh chính kiến, nên sau đó tạo tám vạn tháp, rồi trấn tháp và bình vàng ở núi này.
Phật bảo Mục-liên:
- Ông đến đỉnh núi Tu-di đánh chuông triệu tập phân thân của ta ở khắp mười phương cùng chư Phật và các chúng bồ-tát, thanh văn trong tam thiên đại thiên thế giới. Lúc ấy, Phật phóng ánh sáng, mặt đât chấn động, chư Phật vân tập. Thế Tôn từ tòa đứng dậy cùng với Phật phân thân chắp tay lễ cửa tháp. Cửa tháp tự mở, trong tháp vàng có tám vạn lầu đài bằng bạc, chân châu, mỗi lầu chửa đầy tạng kinh và tạng luật của Phật. Trên các lầu đài có ngọc ma-ni lớn làm đèn, lại có sáu vị tì-kheo nhập Diệt tận định Trong lầu bạc có tám trăm vạn tòa sen, bằng bảy báu. Mỗi một tòa hoa sen đều có hình tượng của chư Phật, thanh văn, cùng tám bộ thần hộ vệ. Lại có năm mươi tì-kheo nhập diệt tận định.
Phật bảo Phổ Hiền:
- Ông mang loa vàng của Ta đến các tì-kheo, thổi khúc Hưng thế và thông báo Ta sắp nhập niết-bàn.
Phổ Hiền vâng lời Phật thổi loa xong, các tì kheo xuất định hỏi Phổ Hiền:
- Nay Đức Phật nào xuất thế?
- Đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuất thế đã lâu và sắp nhập niết-bàn.
Các vị tì-kheo ấy liền cùng Phổ Hiền đến chỗ Phật, đỉnh lễ xong đứng qua một bên. Sáu vị tì-kheo ở trong tháp bạch Phật:
- Lúc Phật Câu-lưu-tôn sắp nhập niết-bàn có bảo chúng con ở trong tháp này đợi Phật Thích-ca cho đến Phật Lâu-chí. Đức Phật ấy bảo: ‘Phật kế sau ra đời rồi vào niết-bàn, ngay lúc kết tập tam tạng ông hãy mở tháp này lấy một bản kinh luật của Ta. Đồng thời từ sáu mươi bốn chủng loại sách của Ta trong trăm ức cõi nước ở khắp tam thiên đại thiên thế giới, mỗi loại ông lấy một bản trao cho Phật ấy, để sau khi Phật ấy diệt độ, lúc kết tập tam tạng xong sẽ căn cứ theo kinh sách của ta mà biên chép và trang hoàng. Lại vì tùy nguyên liệu của các nước khác nhau đều có thể sử dụng để chép kinh văn như lá cây, giấy, vàng, châu báu, đá, sắt v.v... chỉ trừ da, xương, đất không được sử dụng’. Phật ấy bảo con nhập định giữ gìn kinh tượng để giao phó. Sau khi Thế Tôn nhập niết-bàn, Ca-diếp kết tập tam tạng lưu truyền các nước.
Phật bảo long vương Sa-kiệt-la và Tứ thiên vương:
- Các ông hãy cúng dường chân châu, ma ni, vàng, bạc... cho Như Lai. Như Lai muốn tạo điện tháp để cất giữ kinh tượng của các Đức Phật xưa.
Bấy giờ, trời, rồng... phát tâm dâng cúng. Như Lai dùng thần lực trong khoảng một bữa ăn tạo thành đài châu báu và tháp bạc, mỗi thứ có tám vạn, đều chứa đầy kinh tượng của các Đức Phật xưa.
Thế Tôn lại bảo phân thân Phật:
- Các vị hãy cúng dường một tháp và một đài bạc để giữ gìn di pháp của Ta trong tam thiên đại thiên thế giới, chớ để bị hủy hoại.
Chư Phật phân thân nghe xong đều tùy hi cúng dường. Bấy giờ lại có trăm ức vạn Đức Phật từ miệng phóng ánh sáng, tất cả đều tùy hỉ.
Thế Tôn lại bảo các bồ-tát;
- Các ông hãy giữ gìn bảo vệ tháp của ta và căn cứ theo những kinh tạng trong đó mà lưu truyền.
Những đài tháp ấy tất cả còn ở đỉnh Hương sơn.
Lúc Thế Tôn niết-bàn bảo tôi và La-vân giữ gìn, vì đời ác sau này mà mở bày, hướng dẫn chúng sinh lìa khổ. Lại mang tháp đến cung trời Đế Thích an trí ở vườn Hoan Hỉ, cho đến an trí ở cung ma vương, cúng dường tháp năm trăm năm. Sau năm trăm năm cho tháp lưu hành ở các nước, cho đến khi pháp diệt, tháp cũng bay lên cõi trời Đâu-suất-đà. Bồ-tát Di-lặc thấy tháp đến, biết pháp đã diệt, liền phóng ánh sáng lớn chiếu khắp địa ngục, những chúng sinh trong đó sau gặp Phật Lâu-chí đều được giải thoát. Qua năm sau, tháp từ cõi trời Đâu-suất xuống trụ ở cung rồng Ta-kiệt-la. Tháp và đài bạch ngân do Thế Tôn tạo giao phó cho Văn-thù-sư-lợi, Phổ Hiền và Quan Âm đem đi khắp tam thiên đại thiên thế giới. Trong đó mỗi nước, như Trung Hoa... để một đài và một tháp vàng. Bấy giờ, Văn-thù đem tháp và đài an trí ở hang Kim cang tại núi Thanh Lương đến nay vẫn còn. Ngài lại bảo những vị bồ-tát trên lấy kinh tượng từ đài tháp ra chỉ bày cho người hành trì để họ dễ dàng lưu truyền. Ngài còn nói: ‘Đến khi pháp của ta diệt thì sẽ bảo long vương Ta-kiệt-la đem tháp, đài an trí ở long cung nơi biển lớn để cúng dường’.
Hỏi: Tất cả các tạng kinh đều đã kết tập nên đặt ở nước nào, giao phó cho vị vua nào? Nay muốn kết tập thì nên kết tập đầy đủ hay chỉ tóm lược. Xin lần lượt nói?
Đáp: Tôi nghe Thế Tôn bảo Đại Ca-diếp nên kết tập đầy đủ, lại bảo Văn-thù đến trụ xứ của bồ-tát ở núi Đại Thiết Vi thỉnh tám vạn bồ-tát đã chứng đắc Cửu địa kết tập tóm lược các tạng. Phật bảo vua A-xà-thế chép năm bản, Đe Thích và Đại Phạm thiên vương giúp A-xà-thế chép kinh Di giáo của Như Lai. Bản kinh do Ca-diếp kêt tập an trí ở hang của Tu-la.
Hỏi: Lúc Thế Tôn tại thế, tôi nghe Ngài nói: ‘Nếu kết tập xong rồi, nên đem tam tạng của Ta giao phó cho long vương Ta-kiệt-la’. Nay sao ông lại nói khác?
Đáp: Tôi nghe Thế Tôn nói, kết tập tam tạng rồi để ở trong hang Tu-la hai mươi năm, đợi Văn-thù kết tập tam tạng xong mới giao cho long vương Ta-kiệt-la.
Hỏi: Tinh xá Kì-hoàn có chư Phật xưa cùng tam tạng kinh điển, sách âm dương và các dụng cụ cúng đường. Những vật ấy sẽ giao phó cho ai?
Đáp: Nhân duyên việc ấy đều có nói trong kinh Kì-hoàn đồ, mỗi mỗi đều có nơi để giao phó, chẳng cần nói lại.
Hỏi: Tôi nghe Phật dạy: Sau khi ngài diệt độ, hết thảy tạng luật đều lưu hành ở Diêm-phù-đề và ba thiên hạ. Vì tâm ưa thích và sự nhận biết của chúng sinh rất nhiều, như thế phải lưu hành khắp trong thiên hạ sao? Tôi muốn kết tập luật tạng thì phải như thế nào, nay trước đại chúng trời người, ông hãy nói rõ!
Đáp: Phật dặn tôi, sau khi Ta diệt độ, ông hãy nói với Đại Ca-diếp và Văn-thù-sư-lợi lưu hành tạng luật ở ba mươi hai nước trong cõi Diêm-phù-đề, hai trăm sáu mươi nước ở Đông Phất-bà-đề, một trăm ba mươi nước Tây Cù-da-ni. Vì chúng sinh trong những cõi này đều có đại căn, có thể kham nhận lời truyền của Ca-diếp. Còn những cõi khác, chúng sinh phúc mỏng, chẳng thể nghe nổi giáo pháp thì chớ nên lưu truyên pháp này. Lại nữa trong vòng bốn mươi năm sau khi Như Lai diệt độ, các ông nên cho lưu hành hai bộ trong bốn thiên hạ.
Hỏi: Hai bộ là những bộ nào?

Phần 10

Đáp: Luật Tứ phần và luật Thập tụng. Sau bốn mươi năm đến một trăm mười năm, bộ luật Ca-diếp-di mới lưu hành ở những nước đã nói trước. Còn như Trung Quốc được gọi là nước Quân Tử vì nhân dân ở đây căn tính linh lợi, thì được lưu hành ba bộ. Nơi đây thống nhất bốn trăm lẻ ba nước, thống nhất văn tự, nên được lưu hành ba bộ luật.
Hỏi: Ba bộ luật là những bộ nào?
Đáp: Đó là hai bộ trên và bộ Đại tăng-kỉ. Như nước cầu-lưu-li và hơn hai thiên hạ còn lại chỉ lưu hành một bộ Tát-bà-đa.
Dưới mái chính điện tinh xá Kì-hoàn có bốn đài bạc, trong hai đài có bản kinh chữ vàng, giấy bạc. Hai đài còn lại đựng tạng luật, chữ bạc giấy vàng. Tạng luật do long vương chép, tạng kinh do ma vương chép. Hai tạng đó đều là kinh của cổ Phật kiếp Tinh Tú. Ở châu Diêm-phù-đề, hai bộ sách này là đệ nhất. Sau khi Phật nhập niết-bàn, long vương Sa-kiệt-la đem về long cung để cúng dường.
Lại vào thời Phật Ca-diếp, một người ở Trung Quốc chép hai tạng kinh và luật ờ chùa Đại Minh, Kinh châu. Tạng kinh dùng giấy bạc chữ vàng, tạng luật dùng giấy vàng chữ bạc. Sau khi chép xong an trí tạng kinh trong đài sen phía đông nam, tạng luật an trí trên đài sen phía tây, trang nghiêm cúng dường không thể kể hết. Văn tự trong trăm ức tứ thiên hạ đồng với văn tự của hai bộ này. Văn kinh ấy, dù có người viết chữ rất đẹp như Trương Lương, Vương Vệ cũng không thể sánh bằng.
Lúc Như Lai còn tại thế, thánh nhân các nước đến, Ngài thường đem kinh luật này cho họ xem. Sau khi Phật diệt độ, ngài Văn-thù-sư-lợi đem kinh luật này an trí trong hang Kim Cang ở núi Thanh Lương.
Lại có một đài an trí tạng luật do chư Phật quá khứ nói, gồm ba vạn tám nghìn loại. Tạng luật này là bậc nhất trong các sách khắp bốn châu thiên hạ .
Có bài kệ:
Vui thay! Bậc Đại Giác
Thần lực thật rộng sâu
Bốn thiền đã bặt vết
Ba đạt đều rỗng không
Nghìn Phật hiện nghìn dấu
Tâm trí cũng đồng nhất
Thị hiện ở thế gian
Giáo hóa khắp chúng sinh.
Bốn Phật trong Hiền kiếp
Chư Phật đều tương thông
Bảy vị Phật tiếp nối
Thành kính mà kế thừa
Thuyết pháp tại núi Thứư
Hóa độ nơi Phạm cung
Hiện tám tướng thành đạo
Vạn đức thảy dung thông
Trời người đểu hưởng phúc
Ác dứt thiện tăng nhiều
Hàm linh được nương nhờ
Đồng nhận ân của Phật.
5.15.3. Cảm ứng
* Lời dẫn
Bậc Chí Nhân ứng cơ thị hiện, thuận theo thế gian mà biến hóa; lòng từ hóa độ vô cùng, đâu cục hạn nơi hình giáo. Thế nên, nghe thì đồng mà hiểu lại khác, nói chỉ một âm ngôn mà lãnh hội thật chẳng đồng. Ngài bước lên giai vị cùng tột, giáng hạ cứu độ quần mê, hiện tướng xá-lợi toàn thân hay toái thân, nghi biểu đưa vào tụ tháp hay tán tháp. Thần quang rực chiếu khiến tà chấp không còn, linh tích hiện bày khiến lòng tin sâu vững. Từ khi dòng giáo pháp chảy về đông, ánh sáng đạo mầu chiếu sang tây thì người tài đức xuất hiện càng nhiều, sự cảm ứng trải bày cũng lắm. Như biểu tháp của A-dục xây dựng vào triều thịnh Chu, thánh tượng Thế Tôn lưu truyền thời Viêm Hán. Từ đó đến nay, trải qua bao đời, linh tích tích tụ càng nhiều, đâu chỉ Ngũ Thiên mới hiện bày thần hóa. Nên kinh nói: “Mai sau chính pháp đầu tiên hưng thịnh ở phương bắc, kế đến hưng thịnh ở phương đông nam, đến phương giữa thì hoại diệt”. Nay trình bày từ thời Hán Minh đế trở về sau, theo sự thấy nghe về những linh tích của Tam bảo ở Trung Hoa mà thuật lại năm ba chuyện, còn rất nhiều chuyện khác được ghi đầy đủ trong biệt truyện.
5.15.3.1. Tạp kí
• Chu thư dị kí ghi: “Ngày mồng tám tháng tư năm Giáp Dần nhằm năm thứ hai mươi bốn đời Chu Chiêu vương (1029BC), nước ở sông, suối, hồ vùng Trường Giang bỗng nhiên dâng đầy, nước giếng cũng tràn ra, núi sông đều chấn động, lại có ánh sáng năm màu chiếu vào cung vua, khắp trời phía tây một màu xanh hồng. Thái sử họ Tô Do tâu: ‘Có bậc đại thánh ra đời ở phương tây, hơn một nghìn năm sau thánh giáo sẽ đến nước ta’. Chiêu vương liền ra lệnh ghi lời này vào bia đá chôn trước miếu thờ trời ở Nam Giao. Đó chính là lúc Phật Thích-ca đản sinh. Tướng quốc Lữ Hầu cỡi ngựa Hoa Lưu đi tìm Phật. Nhân đó, ông khẩn cầu thấy được linh tích.
Năm thứ năm mươi ba đời Chu Mục vương(189BC), sáng sớm ngày mười lăm tháng hai năm Nhâm Thân, gió mạnh chợt nổi lên, thổi tung nhà cửa, cây cối gãy đổ, mặt đất chấn động, bâu trời âm u. ở phía tây xuất hiện mười hai cầu vồng màu trắng. Thái sử Hỗ Đa nói: ‘Bậc thánh ở phương Tây đã diệt độ’. Đó là điềm báo Phật nhập niết-bàn”.
Sách Xuân thu ghi: “Tháng tư, Lỗ Trang công năm thứ bảy (686BC), Hằng tinh chẳng hiện, ban đêm trời sáng như ban ngày. Đó là điềm lành Đức Phật đản sinh”. Do Phật có hai thân chân và ứng, hai trí quyền và thật, ba minh tám giải, năm nhãn, sáu thông, thần (tâm) thì nói là bất khả tư nghị, pháp thì cho là tâm hành xứ diệt. Đạo của Ngài thì dẫn dắt chúng thánh đến chốn niết-bàn, năng lực của Ngài thì tiếp độ hàm linh ra khỏi biển khổ. Có thể lược nói hạnh lực của Ngài rộng lớn mênh mông”.
Liệt Tử ghi: “Xưa Thái tể Bỉ nước Ngô hỏi Khổng Khâu:
- Ngài là thánh nhân ư?

Phần 11

Khổng Tử đáp:
- Khâu tôi chỉ là người biết rộng nhớ nhiều, chứ chẳng phải thánh nhân.
- Tam vưong có phải thánh nhân không? Thái tể Bỉ hỏi.
- Tam vương khéo dùng trí dũng, có phải là thánh nhân hay không, Khâu này chẳng biết!
- Ngũ đế là thánh nhân chăng? Thái tể Bỉ hỏi.
- Ngũ đế khéo dùng nhân tín, có phải là thánh nhân hay không, Khâu này chẳng biết!
- Tam hoàng là thánh nhân chăng?
- Tam hoàng khéo biết vận dụng thời cơ, có phải là thánh nhân hay không, Khâu này chẳng biết!
- Vậy ai là thánh nhân? Thái tể Bỉ hỏi.
Nghe câu hỏi này, Phu tử biến sắc nói:
- Ở phương tây có thánh nhân. Vị này không dùng pháp trị mà chẳng loạn, không nói mà mọi người tin, không dạy bảo mà người tự làm theo, ảnh hưởng rất lớn đến mọi người, chẳng thể gọi tên”.
Nếu cho rằng tam hoàng và ngũ đế đều là bậc thánh thì lẽ nào Khổng Khâu không nói, để phạm lỗi che giấu bậc thánh? Do đó biết rằng Phật là bậc Đại Thánh.
Kinh Lão Tử tây thăng ghi: “Bậc thầy của ta giáo hóa ở Thiên Trúc khéo vào cảnh giới niết-bàn”. Suy từ đó có thể biết được sự hơn kém của Thích và Lão.
Khoảng niên hiệu Nguyên Thú (122BC-177BC) thời Hiếu Vũ đế (157BC-87BC) nhà Tiền Hán, Hoắc Khứ Bệnh chinh phạt Hung Nô. Khi đến Cao Lan vượt qua núi Cư Diên thì bắt được Hỗn Tà vương và Hưu Đồ vương, lại nhặt được người vàng cao hơn một trượng. Khi đến cung ở Cam Túc, vua cho rằng đây là tượng của bậc đại thánh nên đốt hương lễ bái. Đến khi khai thông Tây Vực, vua sai Trương Mạch đi sứ Đại Hạ. Lúc trở về Mạch tâu: “Có nước Thân-độc còn gọi là Thiên Trúc, ở đó hạ thần mới được nghe giáo pháp Phột-đà". Đó là khởi nguồn hình giáo của Phật.
Niên hiệu Nguyên Thọ (2BC) đời Hán Ai đế, vua sai sứ là Cảnh Hiến đến nước Đại Nhục-chi. Nhân đó, ông học kinh Phật, khi trở về đất Hán, ông có thực hành một ít trai giới của Phật.
Truyện Đô thủy sứ giả Quang lộc đại phu Lưu Hướng ghi: “Hướng xem rộng sách sử, thường thấy kinh Phật. Đến khi soạn Liệt tiên truyện, ông ghi: ‘Tôi sưu tập, kiểm xét thư tàng thấy các vị tiên do thái sử biên soạn, tính từ Hoàng Đế trở xuống cho đến nay, ghi lại sự thật một trăm bốn mươi sáu người, trong đó có bảy mươi bốn người đã xem kinh Phật’”. Căn cứ vào đó thì biết vào thời Chu, Tần về trước đã có Phật pháp lưu hành ở Trung Quốc. Vì sao biết? Vì theo những điều đã nêu ra vậy. Thế nên truyện Phật giáo ghi: “Sau Phật diệt độ một trăm mười sáu năm, ở Đông Thiên Trúc có Thiết luân vương thống trị cõi Diêm-phù-đề, thâu thập xá-lợi của Phật rồi sai quỉ thần xây dựng tám vạn bốn nghìn tháp. Trong chín châu của Diêm-phù đều có an trí tháp này, gọi là tháp do vua A-dục tạo. Vua A-dục tạo các tháp này đúng vào năm thứ hai mươi sáu đời Chu Kính vương, tức năm Đinh Mùi. Trải qua mười hai đời vua, đến đời Tần Thủy Hoàng năm hai mươi bốn (213), vua ra lệnh đốt tất cả sách vở, các tháp của vua A-dục nhân đó cũng ẩn”
Trong mục lục các kinh của Thích Đạo An, Chu Sĩ Hành ghi: “Vào thời Tần Thủy Hoàng có mười tám vị như sa-môn Thích Lợi Phòng người ngoại quốc... mang kinh Phật đến giáo hóa. Thủy Hoàng chẳng tin theo nên bắt giam họ. Đêm đến thần Kim Cang cao trượng sáu đến phá ngục cho họ ra. Thủy Hoàng sợ hãi cúi đầu sám hối”. Căn cứ vào đó thì biết thời Tần, Hán về trước đã có Phật pháp. Mười hai vị hiền giả mà Đạo An nêu ra cũng nằm trong số bảy mươi vị. Nay Liệt tiên truyện ghi bảy mươi hai người.
Kinh Văn-thù bát-nê-hoàn ghi: “Sau khi Phật diệt độ bốn trăm năm mươi năm, Văn-thù đến Tuyết sơn thuyết pháp cho tiên nhân”.
Sách Địa lí chí và truyện Tây vực ghi: “Tuyết sơn chính là ngọn Thông lĩnh, quanh núi này có ba mươi sáu nước, từ trước đến nay đều thần phục Trung Hoa. Thông lĩnh kéo dài từ đông đến Chung Nam. Đây chính là nơi bồ-tát Văn-thù-sư-lợi giáo hóa các tiên nhân”. Nghiệm xét kĩ thì lời của Lưu Hướng đáng tin.
Hậu Hán Giao tự chí ghi: “Phật, Trung Quốc dịch là Giác, nghĩa là bậc đã giác ngộ và giác ngộ quần sinh. Giáo pháp của Ngài lấy việc tu thiện làm chính, chẳng giết hại chúng sinh, chuyên giữ thân tâm thanh tịnh. Người tinh tiến thực hành theo giáo pháp ấy gọi là sa-môn. Sa-môn, Trung Quốc dịch là Tức ác, nghĩa là người cạo đầu, hủy hình sắc, xa gia đình, thoát thế tục, dứt tình tẩy dục mà hướng về vô vi.
Lại vì người chết nhưng tinh thần không mất mà sau đó lại thụ thân, nên kiếp này tạo nghiệp thiện ác thì đời sau phải chịu quả báo. Điều cốt yếu là phải hành thiện tu đạo để luyện tinh thần, luyện mãi không thôi cho đến vô sinh mà thành Phật.
Thân Phật cao một trượng sáu, sắc vàng, viên quang như mặt trời, mặt trăng. Ánh sáng ấy biến hóa không lường, chiếu khắp các cõi, cho nên có thể soi sáng vạn vật mà độ tất cả chúng sinh. Kinh Phật có mấy nghìn quyển, lấy hư vô làm tông, bao trùm cả tinh và thô, thống nhiếp cả chân và tục, đó là lời siêu việt cao xa. Chỗ tìm cầu thì trong nhất thể; điều muốn diễn đạt thì biểu hiện ở chỗ thấy nghe, tất cả đều qui về huyền vi, sâu xa khó lường. Vì thế vua quan, đại nhân, khi thấy sinh tử báo ứng đều sợ hãi kinh tâm”.
5.15.3.2. Thời Hán, chùa Bạch Mã: Vào triều Minh đế (28-78), ở chùa Bạch Mã thuộc Lạc Dương có Nhiếp-ma-đằng, người Trung Thiên Trúc. Sư tướng mạo hiền thiện, phong thái uy nghiêm, thông đạt kinh Đại Tiểu thừa, lấy du hóa làm sự nghiệp. Sư đến Trung Hoa vào niên hiệu Vĩnh Bình thứ ba (61) thời Hán. Một hôm, Minh đế mộng thấy người vàng bay trên hư không mà đến. Khi tỉnh dậy, hoàng đế triệu tập quần thần đoán mộng.
Bấy giờ có một người thông đạt cổ kim tên là Phó Nghị tâu:
- Chúng thần nghe Tây Vực có vị thần gọi là Phật. Người mà bệ hạ mộng thấy có lẽ là vị này.
Hoàng đế cũng tin là như vậy, liền sai Trung lang Thái Âm, bác sĩ đệ tử Tần Cảnh... sang Thiên Trúc để tìm hỏi Phật pháp. Ở Trung Thiên Trúc, Thái Âm... gặp ngài Ma-đằng, bèn thỉnh về đất Hán. Ngài Ma~đằng có chí nguyện rộng lớn không ngại khó khổ, vượt qua sa mạc mênh mông, đến Lạc Dương. Minh đế tiếp đón nồng hậu rồi sai xây riêng một ngôi tinh xá ngoài cửa tây của thành cho ngài ở. Đất Hán từ đó bắt đầu có sa-môn.
Hán Minh đế thỉnh pháp sư Ma-đằng đến .Lạc Dương, xây chùa Bạch Mã ở ngoài Ung môn phía tây thành. Đó là ngôi chùa đầu tiên ở đất Hán. Tương truyền có lần vua nước lân cận đánh chiếm hủy phá các chùa, chỉ có chùa Chiêu-đề chưa bị hủy

Phần 12

phá. Đêm ấy có một con ngựa trắng chạy quanh tháp, hí tiếng bi thương, quần thần tâu vua, vua liền ra lệnh ngưng việc phá chùa. Nhân đó mà đổi tên Chiêu-đề thành tên Bạch Mã. Từ đó các chùa đêu theo cách này đặt tên
Thời Hán ở chùa Bạch Mã tại Lạc Dương có ngài Trúc Pháp Lan, người Thiên Trúc. Ngài tự nói đã đọc tụng mấy vạn chương kinh luận, là thầy của các học giả ờ Thiên Trúc. Lúc Thái Âm... đến nước này gặp Trúc Pháp Lan và Ca-diếp Ma-đằng cùng chung bản hoài du hóa, bèn thỉnh sang Trung Hoa. Gặp lúc tăng chúng nước này giữ lại, ngài Trúc Pháp Lan âm thầm trốn đi, khi đến Lạc Dương thì cùng trụ với ngài Ma-đàng. Chỉ trong thời gian ngắn sư đã giỏi tiếng Hán nên dịch những bộ kinh mà Thái Âm thỉnh về từ Tây Vực. Đó là năm bộ: Thập địa đoạn kết, Phật bản hạnh, Tứ thập nhị chương... Gặp lúc dời đô, khắp nơi loạn lạc nên bị mất bốn bộ, chẳng lưu truyền ở vùng Giang Đông, chi có kinh Tứ thập nhị chương vẫn còn đến nay, khoảng hơn hai nghìn chữ. Đây chính là bộ kinh xuất hiện sớm nhất ở đất Hán. Sau đó, ngài Trúc Pháp Lan tịch ở Lạc Dương, hưởng thọ hơn sáu mươi tuổi.
Vào thời Hán Minh đế, pháp sư Trúc Pháp Lan người Thiên Trúc thỉnh đến Lạc Dương một tượng Phật Thích-ca ngồi, là họa tượng thứ tư được vẽ lại từ tượng Phật bằng gỗ Chiên-đàn do vua Ưu-điền sai thợ tạc. Minh đế liền sai họa sĩ vẽ lại an trí trong đài Thanh Lương và lăng Hiển Tiết. Tượng cũ đến nay chẳng còn. Đây là tượng Phật đầu tiên ở đất Hán (Ngụy thư cũng ghi: “Vào thời Hán Mình đế, Tam bảo bắt đầu xuất hiện ”).
Xưa, Hán Vũ đế sai người vét hồ Côn Minh, thấy dưới đáy có lớp tro đen, vua hỏi Đông Phương Sóc, Sóc nói:
- Thần chưa hề thấy, nên hỏi Phạn tăng Tây Vực.
Sau Trúc Pháp Lan đến, mọi người hỏi lại về lớp tro ấy, sư nói:
- Lớp tro này là do khi thế giới hoại diệt, kiếp hỏa thiêu cháy thế gian mà có.
Lời Đông Phương Sóc nói thật có chứng cứ, nên mọi người tin theo.
5.15.3.3. Thời Tây Tấn, tượng Phật nổi trên biển: Năm Kiến Hưng thứ nhất (313), tượng đá Phật Duy-vệ và Phật Ca-diếp từ ngoài biển trôi vào cửa biển Hỗ Độc thuộc sông Tùng huyện Ngô. Từ xa, những người đánh cá đều nhìn thấy ngoài khơi giống như hai người nổi trên mặt nước, nhưng không thể đến gần, họ bèn mời thầy phù thủy đọc thần chú. Phù thủy cho là thần biển, Tế tửu lại nghi là tiên linh nên rung linh và dùng áo, khăn để thinh cầu. Lúc ấy trời liền chuyển âm u, sóng nổi mạnh và hai vị ấy ngược dòng ra xa. Người theo Hoàng Lão thì cho rằng đó là Thiên sư, nên ra nghinh đón thì biển nổi sóng như trước. Chu ứng ở huyện Ngô kính tin chính pháp, bèn thỉnh vị ni ở chùa Đông Linh và vài người trì trai giữ giới cùng đến nghinh tượng. Bấy giờ, mây sạch trời trong, gió lặng, sóng dứt, tượng theo dòng tự đến.
Trên lưng tượng có bài minh. Ban đầu mọi người chuyển tượng xuống thuyền thấy nhẹ như lông, nhưng khi đưa lên xe thì lại nặng như núi. Mọi người bèn an trí tượng tại tinh xá Thông Huyền, cũng là một ngôi chùa cũ ở huyện Ngô.
Đến niên hiệu Vĩnh Minh thứ bảy (490) đời Tề, lại có phiến đá nổi trên biển trôi vào đất Ngô, phiến đá rất cứng và sáng bóng, cỡi sóng rẽ nước như thuyền gồ. Bấy giờ, quan Chủ thư Châu Pháp Nhượng là cháu bốn đời của Chu ứng đi sứ đến Ngô đã có được khối đá này và hiến cho triều đình.
Lúc ấy, Vũ hoàng đế nhà Tề vừa mới kiến tạo chùa Thiền Linh bảy tầng, rực rỡ trang nghiêm và phiến đá đã đến, thật đúng thời ứng hiện. Các quan rất quí trọng sự ban cho này và đồng ý dùng để tạo chân thân Phật. Thế là họ mời những thợ đá giỏi như Lôi Ti... tạc tượng Phật Thích-ca ngồi cao ba thước năm tấc, tổng chiều cao kể cả viên quang và tòa là sáu thước năm thốn. Đây là một tuyệt tác, không những đã đạt đến chỗ tận cùng ảo diệu của điêu khắc, mà còn đạt đến chỗ tột đỉnh tinh xảo của chạm trổ. Đồng thời cũng trình hiện được tướng hảo và hiển bày nét từ bi.
Thiết nghĩ, đặc tính của đá vốn chìm, nhờ thần cảm nên nổi. Thụy tượng hai lần trong hai đời vượt biển đến đất Ngô. Tượng xưa, tượng nay chẳng đồng, nhưng cũng thuộc bảy vị Phật. Duyên gặp được tượng thuộc dòng họ Chu, thầm hợp vận hay, trước sau như một. Vì thế nên xét lại việc trước để minh chứng cho đời sau
5.15.3.4. Đời Tề Văn Tuyên, sư Thống Thượng: Sư người ở Lương Châu. Năm mười ba tuổi đã phát nguyện sang Tây Trúc, nhưng mãi đến tháng năm niên hiệu Nguyên Huy thứ ba (475) đời Tống, sư mới từ kinh đô khởi hành, trải qua năm năm thì đến nước Nhuế, rồi đến Vu-điền. Ngày ông sắp trở về, một vị tăng lấy từ mật thất ra một hộp đồng trao cho sư và nói:
- Trong hộp này có răng Phật rộng một tấc, dài ba tấc, có thể đem về phương nam để làm lợi ích rộng lớn.
Sư vui mừng như thấy thân Phật, đỉnh lễ thụ nhận.
Vị tăng ấy lại nói:
- Ta khó khăn lắm mới có được chiếc răng Phật này ở nước Ô-triền, lại dùng ấn đồng hình mặt quốc vương để niêm phong hộp này.
về sau, sư nghe chư tăng luận bàn: “Nước Ô-triền bị mất răng Phật, không biết vị tăng phúc đức ở nước nào được cúng dường răng Phật”. Tiên sư nghe thế, lòng thầm vui, càng thêm cung kính, thế rồi sư mang về Chung sơn.
Trải qua mười lăm năm, tuy có đệ tử thân cận, nhưng không ai biết sư có răng Phật. Sư chỉ trình riêng với luật sư Pháp Dĩnh ở chùa Linh Tướng, đỉnh lễ xin giải thích việc một vị tăng người Qui-tư chẳng biết phân biệt thật giả mà thường nghi răng Phật là giả. Bấy giờ, Tư đồ Cánh Lăng Ván Tuyên vương, từ nhỏ đã tỏ ra thông tuệ, ngưỡng mộ Phật pháp, thành tâm khẩn cầu cảm được linh ứng. Vào ngày mồng tám tháng hai niên hiệu Vĩnh Minh thứ bảy (489), tại pháp hội trong cung phía tây, ông thấy Phật đến từ phương đông, tôn dung rực rỡ. Văn Tuyên vương hướng về Phật đỉnh lề rồi đứng hầu, bất giác cảm thấy mũ của mình bị cắt, thân mình ngồi xuống. Lại thấy Đức Phật mỉm cười, từ kim khẩu nhả ra những hạt trắng như tuyết. Văn Tuyên lấy tay hứng thì những hạt này biến thành lúa ngọc. Sau đó, ông đem những hạt ngọc này đặt ở phủ Đông
Vào ngày hai mươi chín tháng sáu, Văn Tuyên mộng thấy mình đi đến chùa Định Lâm, nghe tin sư đang dưỡng bệnh nơi đây. Nhân đó, Văn Tuyên đến viếng và hỏi:
- Bậc chứng đắc năm thông chưa thoát khỏi sinh lão bệnh tử. Ngoài y bát của pháp sư, còn vật gì có thể tạo công đức chăng?
- Trong kho của bần đạo có thần bảo vô giá, kính gửi lại cho ngài, xin hãy đến đó tự lấy!
Văn Tuyên theo lời chỉ dẫn, tìm đến thì thấy có những chiếc hộp, lần lượt mở ra thì phần nhiều là kinh tượng. Cuối cùng ông thấy một chiếc hộp nhỏ treo trên cao, mờ ra thì ánh sáng lúc ẩn lúc hiện. Mới đầu cho là tượng, lại chẳng phải tượng, đã nói

Phần 13

là chẳng phải tượng, nhưng lại thấy là tượng. Văn Tuyên tỉnh mộng, thầm biết đây là điềm lành.
Sáng hôm sau, Văn Tuyên muốn âm thầm xác minh điềm mộng nên sai cận thần là Dương Đàm Minh đến thưa:
- Trong kho của pháp sư nhất định có vật báu đặc biệt, xin ngài cho xem!
Trong lúc quá bất ngờ, sư nghĩ: “Ta tưởng Vãn Tuyên thích xem trân châu thế tục, không ngờ lại muốn xem răng Phật! Theo lẽ thường thì phải đáp ứng”. Sư lại suy nghĩ mãi, đến nửa đêm chợt nhận ra ý của vương gia. Vì việc này không thể nói qua người khác, nên sư liền đem điều bí mật đích thân đến phủ thuật lại đầy đủ:
- Bần đạo chỉ cho luật sư Dĩnh xem, ngoài ra không ai hay biết. Nay đàn việt đã thành cảm nên được linh ứng, thật có chứng cứ. Đó là điều bất khả tư nghị. Linh tích đã hiện bày thì đâu dám che giấu làm nhục uy thần, phế bỏ Phật sự. Nay bần đạo xin dâng cúng.
Ba ngày sau tiên sư tự mang răng Phật đến Đông phủ. Khoảng mười ngày sau khi được răng Phật, Văn Tuyên vương lại mộng thấy có một vật giống như sừng trâu ở trên không trung dài hơn ba thước. Thần quang chợt phát chiếu vào cánh tay phải của Văn Tuyên, lát sau lại thấy một lạp tượng cũng ba thước, nháy mắt nói ba lần: “Rất đẹp!”.
Lại nữa, lúc ở nước Vu-điền, sư cũng thỉnh được mười lăm hạt xá-lợi cùa Phật, đã phân chia các nơi. Khi xây chùa Thiền Linh, Chì Viên, sư cũng có cúng dường. Sư lại lấy một viên xá-lợi trao cho Văn Tuyên. Văn Tuyên đang ở Đông cung, lấy nước sạch để thử là giả hay thật, thì thấy xá-lợi nổi trên mặt nước, rồi biến mất, mấy mươi tăng tục cố tìm khắp trong ngoài đến mệt mỏi, nhưng không hề thấy.
Văn Tuyên bèn chí thành sám hối, trong chốc lát lại thấy xá-lợi xuất hiện ở dưới đất trước mặt, phát ánh sáng rực rỡ cao hơn một thước. Mọi người đều ca ngợi.
Tiên sư còn hai viên xá-lợi, mỗi viên bỏ vào một hộp bạc, niêm phong, đề là “phủ khiếp”, về sau xem lại thấy mất. Gần ba năm sau khi mở lấy răng Phật, chợt thấy xá-lợi ở trong hộp cũ. Trước chỉ có hai viên nay sinh thêm một viên nữa thành ba viên, cùng ờ một chỗ, nhưng hộp bạc trước kia vẫn chưa tìm được. Thế nên biết thần hóa không thể lường được.
Văn Tuyên vốn nghe ở phương tây có răng và tóc của Phật nên vô cùng vui mừng. Đến năm Kiến Nguyên thứ ba (481), ông xin Cao hoàng đế mời sa-môn Đàm-ma-đa-la nguời ngoại quốc đến, ông dâng phẩm vật cúng dường để tỏ lòng thành kính. Lại sai làm một màn báu nhỏ định tặng cho Tây Vực, nhưng sau đó giữ lại bởi linh cảm như sẽ được một điều gì tốt lành. Không bao tâu, sư đến kinh đô, quả là linh ứng. Văn Tuyên liền cúng dường màn báu này.
Lý mầu khế hợp chẳng phải một sớm một chiều. Sau đó, Văn Tuyên xây bảo đài để an trí màn báu, tạo kho báu để đặt hộp xá-lợi, tôn kính, thờ phụng, dốc hết tâm thành.
5.15.3.5. Đời Tùy, quốc sư Trí Giả: Sư chính là đại sư Trí Khải trụ tại chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai. Sư họ Trần, người Dĩnh Xuyên, là bậc hiền đức mà xưa nay ít ai sánh bằng. Sư thường thích ở núi, chuyên tư duy thiền định, đạo tục đều khâm phục, vua quan cũng rất trọng vọng. Trước khi sư đến núi Thiên Thai, đã có vị tăng tên Định Quang người Thanh Châu ở núi này đã mười ba năm. Định Quang chuyên tu tuệ, thần nhân cảm phục. Khi đến núi này, sư gặp Định Quang, liền tham vấn pháp yếu. Định Quang nói:
- Đại thiện tri thức có nhớ năm xưa tôi ở trên núi vẫy tay gọi ngài không?
Sư giật mình kinh ngạc biết rằng điềm mộng năm xưa là thật ở nơi đây. Bấy giờ là tháng chín, mùa thu, niên hiệu Thái Kiến thứ bảy (602) đời Trần. Sư lại nghe tiếng chuông vang khắp núi, khiến mọi người đều kinh ngạc. Định Quang nói:
- Tiếng chuông ấy là triệu tập người có duyên.
Sư quyết định trụ lại núi này, lại tìm được một thắng địa nằm về phía bắc am thất của thiền sư Định Quang, phía nam núi Phật Lũng, đầu nguồn suối Loa. Nơi đây thoáng đãng, đất đai bằng phảng, nước suối trong mát, thích hợp tu tập, sư bồi hồi ở lại nơi đây.
Lát sau có ba người quấn khăn đen mặc áo đỏ cầm sớ thỉnh, nói:
- Xin ngài ở đây hành đạo.
Thế là sư dựng thảo am, hằng ngày ăn trái tùng, trải qua mây năm. Sư cũng thường qua lại với thiền sư Định Quang. Một hôm, thiền sư nói:
- Hãy tùy nghi dựng chùa, khi ông đến Quốc Thanh thì lòng người qui hướng, sẽ có quí nhân vì thiền sư mà xây dựng chùa viện khắp núi. Lúc ấy, chẳng ai nghĩ đến lời này.
Sau đó, sư ẩn cư tu hạnh đầu-đà trên ngọn núi Hoa Đỉnh phía bắc ngôi chùa. Một hôm, bỗng nhiên gió bão nổi lên quật ngã cây cối, sấm sét rền vang, hàng ngàn bầy quỉ hiện ra muôn hình vạn trạng, phun lửa, hét vang, đáng sợ vô cùng. Sư vẫn an nhiên bất động, chúng liền biến mất. Sư lại mắc bệnh thân tâm đau nóng như bị lừa đốt. Lại thấy hình ảnh song thân đã qua đời đến gục đầu lên gối, tỏ bày nỗi thống khổ và cầu xin cứu giúp. Sư liền an trú vào Pháp nhẫn, bất động như núi khiến hai duyên xấu kia liền mất. Thế rồi, sư thấy minh đến Tây Vực, được một thần tăng bảo:
- Hàng phục quân địch, chiến thắng oán thù, mới gọi là dũng!
Bấy giờ Trần Tuyên đế hạ chiếu: “Thiền sư là bậc hùng tài trong Phật pháp, được các bậc tuấn kiệt thời nay kính trọng, giáo huấn cả đạo tục, là niềm hi vọng của nước nhà, nên cắt thuế của huyện Thủy Phong để cấp cho sư, miễn thuế hai hộ dân để cúng dường củi nước.
Núi Thiên Thai thuộc huyện An Lạc, huyện lịnh là Viên Tử Hùng người quận Trần do đây mà sùng tín chính pháp. Mỗi hạ, sư thường giảng kinh Tịnh Danh. Một hôm đang giảng, sư chợt thấy ba bậc thềm báu từ hư không hạ xuống, trên các bậc thềm có mấy mươi vị Phạm tăng vào giảng đường lễ bái, tay cầm lư hương nhiễu quanh sư ba vòng, lâu sau mới biến mất. Đại chúng đều thấy, kinh ngạc tán thán. Hành trạng của sư có sự linh cảm như thế, không thể thuật hết.
Ngày hai mươi hai tháng mười một, niên hiệu Khai Hoàng mười bảy (597), bất chợt sư bảo đại chúng:
- Ta sắp đi đây!
Nói xong, ở trước tượng đá lớn trên núi Thiên Thai, sư ngồi ngay thẳng như vào thiền định mà tịch. Hưởng thọ sáu mươi bảy tuổi.
Sau khi sư tịch, còn có nhiều sự linh nghiệm: Gần cuối niên hiệu Nhân Thọ (601-604) người ta thấy sư mang y, chống tích trượng giống như khi còn sống, cả thảy có bảy lần sư hiện về ở núi Thiên Thai. Có một lần sư trở về Phật Lũng bảo đệ tử:

Phần 14

“Y pháp tu hành, các ngươi có được an ổn chảng?”. Cả đại chúng đều thấy, ai cũng thương kính câu hỏi ấy. Sư xuất hiện khá lâu mới biến mất.
5.15.3.6. Đời Đường, Thích Đàm Vinh chùa Pháp Trụ, Lộ châu: Sư họ Trương, người Định Châu, thần thái trang nghiêm, khí mạo thanh tú, nhiếp niệm trước vinh hoa, tùy duyên giáo hóa, chưa từng dính mắc. Mỗi năm vào mùa xuân, mùa hạ, sư thường hành Ban-chu tam-muội Đại thừa. Đến mùa thu, mùa đông thì kết hợp giữa thiền và tụng niệm. Một hôm, sư bảo đại chúng:
- Đặc tính của xá-lợi hiện sinh và biến diệt không lường. Người nào lễ bái khẩn cầu, không những tiêu được nghiệp khổ mà còn được toại nguyện.
Mọi người đặt xá-lợi trong một bát nước rồi đốt hương lễ bái cầu nguyện thâu đêm. Đến sáng hôm sau, thâu được hơn bốn trăm hạt xá-lợi ở trong bát. về sau, phòng sư ở bỗng nhiên bị sập, khám thờ Phật và xá-lợi tự nhiên xuất hiện bên ngoài đình, không hề hư tổn.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ bảy (633), các cư sĩ như Thường Ngưng Bảo... thỉnh sư trụ trì chùa Pháp Tự ở Lộ châu. Sư dạy đại chúng thực hành
Phương đẳng sám pháp. Đến ngày mười bốn tháng bảy, sa-môn Tăng Định giới hạnh tinh nghiêm, thấy trong đạo tràng có ánh sáng ngũ sắc từ trên chiếu xuống, trong đó có bảy vị Phật tướng hảo rực rỡ nói với Tăng Định:
- Ta là Tì-bà-thi Như Lai, Vô Sở Trước, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, vì tội của ngươi được tiêu trừ nên Ta đến đây làm chứng, nhưng chỉ có bốn sư mới thụ kí cho ngươi.
Sáu vị Phật khác cũng nói một lời như thế. Sau cùng, một vị Phật nói: “Ta là Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, vì tội của con đã tiêu trừ nên Ta đến thụ kí. Đàm Vinh chính là Phật Phổ Ninh ở kiếp Hiền, Ngài đã tạo duyên lành này để con diệt tội. Thân con thanh tịnh, sau này sẽ làm Phật hiệu là Phổ Minh”.
Điềm lành cảm được sự ứng hiện như thế, thật khó lường.
Niêu hiệu Trinh Quán mười ba (639) sư tịch ờ chùa Pháp Trụ, hưởng thọ tám mươi lăm tuổi.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục