Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 88 - CHƯƠNG THỤ GIỚI (tt)

01/01/2016

QUYỂN 88 Quyến này tiếp theo chương Thụ giới. 87. CHƯƠNG THỤ GIỚI (tt) 87.4. NGŨ GIỚI 87.4.1. Lời dẫn Thế gian xem trọng nhân-lễ-nghĩa-trí-tín, hàm thức được trưởng dưỡng bởi không sát-đạo- dâm-vọng-tửu. Tuy đạo tục trái...

PUCL QUYỂN 88 - CHƯƠNG THỤ GIỚI (tt)
Phần 1

QUYỂN 88
Quyến này tiếp theo chương Thụ giới.
87. CHƯƠNG THỤ GIỚI (tt)

87.4. NGŨ GIỚI
87.4.1. Lời dẫn
Thế gian xem trọng nhân-lễ-nghĩa-trí-tín, hàm thức được trưởng dưỡng bởi không sát-đạo- dâm-vọng-tửu. Tuy đạo tục trái nhau, nhưng việc giáo hóa thì dung thông. Bởi vì, khởi lòng nhân thì không sát sinh, vâng theo nghĩa thì không trộm cắp, giữ được lễ thì không tà dâm, nói lời thật thì không dối gạt, thuận theo trí thì không uống rượu. Nhưng đây chỉ là lời dạy tạm thời, chẳng phải là giáo căn bản thật tu. Giáo căn bản thật tu là chính pháp. Việc tu tập của chính pháp nhất định phải từ nhân. Nhân chính là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Như vậy việc hành trì cốt ở nơi thật pháp, tức là chỉ vào sự việc mà nói thẳng, không mượn những lời hoa mỹ để hiển ý. Tu theo nhân này dù không mong được quả mà vẫn chứng quả, không cầu an lạc mà an lạc tràn đầy. Nếu bỏ gần mà tìm xa, bỏ nhỏ mà giữ lớn thì không có nơi qui hướng. Nên biết, vâng giữ nhân không sát sinh là đã đạt được quả nhân nghĩa.
Sở dĩ biết thế, là vì nay thấy người giữ giới không sát sinh, tuy không câu nhân mà lòng nhân hiển lộ. Giữ giới không trộm cắp, dù không thích nghĩa mà nghĩa tự bày. Giữ giới không tà dâm, tuy không cầu lễ mà lễ tự thành tựu. Tuân theo giới không nói dối, dù không chuộng tín mà tín tự thành. Giữ giới không uống rượu, tuy không luyện trí mà trí vẫn tự sáng.
Như vậy, đáng được gọi là: “Khéo nâng giềng giữ mối thì vạn mắt lưới đều mở toang; đắp nền dựng mái tức tránh được mưa nắng”. Thế thì có công gì phải bồi, có đức nào để trái. Nếu không tu nhân như thế sẽ mê mờ trong tham dục, luống khổ thân tâm, nhọc lòng trăm họ. Ngày đến tai mắt luống uổng thấy nghe, đêm về thân tâm mệt mỏi; sao cách đạo quá xa như vậy? Đạt được gốc thì không việc gì không thành tựu. Mới hay, cá lớn đâu thể sống nơi ngòi rạch; chim hồng, chim hộc há lại bay trong núi rừng nhỏ hẹp.
87.4.2. Già và Nạn
Khi có người đến thụ giới, trước tiên giới sư phải vấn già nạn người ấy. Luận Thành Thật nói: Khi vấn già, gặp người phạm tội nghịch, tặc trụ, làm hoen ố tì-kheo ni .V.V.. thì không cho thụ giới tì-kheo. Những người này nếu làm cư sĩ vẫn được thiện luật nghi, không ngăn ngại các việc thiện bố thí, hành từ v.v..., nhưng chỉ được giới tại gia. Vì người này đã bị nghiệp ác làm ô uế, chướng ngại thánh đạo, nên không cho xuất gia.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu muốn thụ giới ưu-bà-tắc đế tăng trưởng của cải và thọ mạng, trước hết phải thưa cha mẹ, báo cho vợ con, gia nhân v.v... biết, kế đến phải tâu quốc vương (sơ dĩ phải thưa vua là vì vua có lệnh cấm không cho thụ giới. Nếu trước đó không cỏ lệnh cấm thì không cần thưa). Khi đã được sự đồng ý rồi thì được thụ giới
Nếu người nào xuất gia, phát tâm bồ-đề thì nên đến trước vị hòa thượng cung kính đỉnh lễ, ôn tồn thăm hỏi và thưa:
- Bạch đại đức! Con là trượng phu đủ tướng nam tử, muốn thụ giới bồ-tát ưu-bà-tắc, xin đại đức từ bi chấp thuận. (Thưa một lần là được. Nếu người thụ giới Thanh văn biệt giải thoát, không phát tâm bồ-đề, từ năm chủng xuất gia lãnh thụ thì cũng đắc giới.)
Bấy giờ vị hòa thượng nên hỏi:
- Cha mẹ, vợ con, nô tì, quốc vương của ông đều bằng lòng chứ?
Nếu người ấy đáp “đã chấp thuận” thì giới sư hỏi tiếp:
- Ông có thiếu nợ Phật, pháp, tăng và của người khác không?
Nếu người ấy đáp “không” thì giới sư hỏi tiếp:
- Hiện tại, thân tâm ông có bị bệnh không?
Nếu người ấy thưa “không” thì hòa thượng lại hỏi:
- Ông có làm những điều phi pháp đối với tì-kheo, tì-kheo ni không?
Nếu đáp “không”, giới sư lại hỏi tiếp:
- Ông có phạm năm tội nghịch, tội trộm pháp không? Có phải là người không căn, hai căn không? Có phạm tội trọng trong bát trai giới không? Có bỏ bê cha mẹ, sư trưởng trong lúc bị bệnh, giết người phát tâm bồ-đề, trộm vật của hiện tiền tăng không? Có phải là người xấu ác, lưỡng thiệt, ác khẩu, làm điều phi pháp với mẹ, chị em không? Có nói dối đại chúng không?
Nếu người ấy đáp “không” thì hòa thượng lại bảo:
- Thiện nam tử! Giới này rất khó được, có thể làm nền tảng cho mười giới sa-di, giới tì-kheo, giới bồ-tát cho đến bồ-đề. Nếu chí tâm thụ trì, sẽ được vô lượng lợi ích. Nếu hủy phạm những giới này phải chịu khố não cùng cực trong ba đường ác suốt vô lượng kiếp. Nay ông muốn được vô lượng lợi ích, vậy có dốc lòng thụ trì chăng?
Nếu giới tử đáp “có” thì giới sư truyền tam qui. Lúc ấy giới sư lại hỏi:
- Giới này rất khó. Nếu ông đã qui y Phật rồi, thà bỏ thân mạng chứ khồng qui y Tự Tại thiên; qui y pháp rồi, thà bỏ thân mạng, quyết không qui y tà thuyết ngoại đạo; qui y tăng rồi, thà bỏ thân mạng quyết không qui y tà chúng của ngoại đạo. Ông có thể chí thành qui y Tam bảo như thế không?
Nếu giới tử đáp “giữ được” thì giới sư bảo ưu-bà-tắc phải thân cận học hỏi với bậc xuất gia có trí tuệ trong sáu tháng. Vị này phải hết lòng quan sát bốn oai nghi của ưu-bà-tắc. Nếu thấy ưu-bà-tắc này trong vòng sáu tháng thực hành đúng theo sự chỉ dạy, thì nhóm họp chúng tăng đủ hai mươi vị để làm phép yết-ma và thưa:
- Đại đức tăng lắng nghe! Cư sĩ này tên là...đã ở trước chúng tăng thụ giới ưu-bà-tắc rồi, trong sáu tháng qua, bốn oai nghi thanh tịnh, dốc lòng giữ gìn giới pháp. Trượng phu này đầy đủ tướng nam tử. Nếu tăng đồng ý thì im lặng, ai không đồng ý thì nói ra. (Thưa một lần là được. Nếu từ trước đã có chính tín, không tin theo tà đạo thì không cần phải thực hành nghi thức Phiên tà Tam qui sáu tháng, mà trực tiếp hỏi già nạn và dạy họ sám hối xong, liền trao ngũ giới, bát quan giới và Tam qui).
87.4.3. Nghi thức thụ giới
Người muốn thụ giới phải đầy đủ oai nghi, đối trước năm chúng xuất gia để lĩnh thụ. Theo luận Trí độ, nghi thức thụ giới như sau:
Giới tử thưa:
- Con tên là.... nguyện qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng (đọc ba lần). Con tên là.... qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi (đọc ba lần). Con là ưu-bà-tác (ưu-bà-di) tên là.... từ nay-đến trọn đời nguyện qui y Tam bảo, xin đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni chứng biết lòng con.
Kế đó giới sư dạy:
- Ưu-bà-tắc hãy lắng nghe! Như Lai, ứng Cúng Chính Biến Tri là bậc thấy biết tất cả, đã nói năm giới cho ưu-bà-tắc các ông. Các ông phải trọn đời giữ gìn Năm giới đó là:
1. Suốt đời không được giết hại chúng sinh. Đây là giới của ưu-bà-tắc. Ông có thể giữ suốt đời được không? Nếu giữ được, thì nói: “Con giữ được!”.
2. Suốt đời không được trộm cắp. Đây là giới của ưu-bà-tắc. Ông có thể giữ suốt đời được không? Nếu giữ được thì nói: “Con giữ được!”.
3. Suốt đời không được tà dâm. Đây là giới của ưu-bà-tắc. Ông có thể giữ suốt đời được không? Nếu giữ được thì nói: “Con giữ được!”.
4. Suốt đời không được nói dối. Đây là giới của ưu-bà-tắc. Ông có thể giữ suốt đời được không? Nếu giữ được thì nói: “Con giữ được!”.
5. Suốt đời không được uống rượu. Đây là giới của ưu-bà-tắc. Ông có thể giữ suốt đời được không? Nếu giữ được thì nói: “Con giữ được!”.
Giới sư nói giới tướng xong, lại bảo giới tử:
- Đây là năm giới của ưu-bà-tắc, phải hết lòng thụ trì, đồng thời cúng dường Tam bảo, siêng tu phúc đức, để gần thì được phúc báo trời người, lâu xa thì thành tựu quả Phật. Cũng nên giữ mỗi năm ba tháng trường trai, sáu ngày trai của những tháng còn lại-Nếu người chỉ thụ một giới thì nghi thức lãnh thụ không đọc chữ “năm” mà chỉ đọc: “Con là ưu-bà-tắc thụ giới không sát sinh”, còn lại thì y như văn thụ Tam qui trước. Đọc ba lần xong là lãnh thụ năm giới.
Kế đó là tam kết và căn dặn giới tử.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Hỏi:
- Không thụ Tam qui có được thụ ngũ giới không?
Phần 2

Đáp: Không được! Phải thụ Tam qui, sau mới thụ ngũ giới. (Thụ bát giới cũng đồng nghi thức này) 87.4.4. Giới tưởng Trong luận Tát-bà-đa ghi:
Hỏi: Trong năm giới có bao nhiêu thật giới?
Đáp: Bốn giới trước là thật giới, giới rượu là già giới. Sở dĩ nhập chung như vậy, là vì sợ phạm giới này sẽ phạm hết bốn giới trước. Như thời Đức Phật Ca-diếp, có một ưu-bà-tắc do uống rượu dẫn đến hành dâm với vợ người khác, lại trộm gà làm thịt. Chủ nhân đến hỏi, anh nói ‘không trộm’, nên phạm luôn lỗi nói dối. Uống rượu cũng có thể dẫn đến phạm bốn tội nghịch, không phạm tội phá tăng.
Nếu đã thụ giới không sát sinh thì tất cả mọi loài, ngay đến những côn trùng nhỏ bé cũng không được sát hại, cũng không được ăn cá thịt và các loại rau củ cay nồng như hành, tỏi...
Kinh Lăng-già ghi: “Phật dạy: •
Này Đại Tuệ! Bồ-tát có vô lượng nguyên do không nên ăn thịt. Hôm nay Như Lai chỉ lược nói mười nguyên do:
1. Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay, nhân duyên xoay vần luôn làm thân quyến của nhau.
2. Vì đồ tể bán lẫn lộn tất cả các loại thịt gia cầm như, lừa, lạc đà, chồn, chó, trâu, ngựa v.v...
3. Ăn thịt khiến cho hơi thở thêm bất tịnh.
4. Chúng sinh nghe mùi thịt đều kinh sợ. Như bầy chó thấy kẻ chiên-đà-la đều oán ghét, sợ hãi sửa vang.
5. Ăn thịt là nguyên nhân khiến người tu hành không thể phát sinh tâm từ.
6. Người ngu thích ngửi những mùi xú uế bất tịnh nên không có tiếng tốt.
7. Ăn thịt sẽ dẫn đến chú thuật không linh nghiệm.
8. Do tham đắm mùi vị, nên khởi tâm sát sinh.
9. Người ăn thịt sẽ bị chư thiên xa lánh, vì hơi thở hỏi và có nhiều khí ô trược.
10. Khi ở nơi rừng cây vắng vẻ, hổ lang nghe mùi dễ đến làm hại.
Ta từng nói, phàm khi muốn uống ăn thịt phải quán tưởng như đang ăn thịt con mình và như uống thuốc .
Kinh Ban Túc vương ghi; “Vào thời quá khứ có một vị vua tên là Sư Tử Tô-đà-bà. Vì ông ta ăn tất cả các loại thịt ngay cả thịt người, nên quan dân không chịu nổi mà mưu phản”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Người ăn thịt là đoạn dứt hạt giống từ bi. Khi đi đứng, ngồi nằm, chúng sinh nghe mùi thịt nơi thân người ấy đều kinh sợ. Thí như có người ở bên cạnh sư tử, thân anh ta có mùi sư tử, ai đến gần cũng sợ hãi. Cũng vậy, người ăn tỏi, hơi thở có mùi rất hôi, mọi người đến gần nghe mùi hôi ấy liền bỏ đi. Nhìn từ xa còn không muốn, huống gì gần gũi. Tất cả các loài sống trên không, hay dưới nước trông thấy kẻ ấy thì đều bỏ chạy và nói: ‘Người này là kẻ thù của chúng ta’. Cho nên bồ-tát không được ăn thịt”.
Giải thích giới tướng của năm giới ưu-bà-tắc:
• Giới không sát sinh: Nếu nước giếng của nhà thế tục có nhiều côn trùng nhỏ bé, cần phải lọc sạch, thả chúng về lại chỗ cũ, sau đó mới dùng. Khi đi đâu cũng phải mang theo túi lọc.
• Giới không trộm cắp: Ngay đến một ngọn cỏ, một hạt thóc. : , cũng không được lấy. Luận Trí độ ghi: “Kiều-phạm-bát-để nhặt một cọng lúa chín mà không trả lại chủ, nên phạm tội ăn trộm, đọa làm trâu suốt năm trăm đời, cho đến khi đã chứng A-la-hán vẫn bị quả báo sau khi ăn thường nhai lại”.
• Giới không tà dâm: Luận Trí độ ghi: “Trừ vợ mình ra, nếu hành dâm với người nam, người nữ khác, cho đến quỉ thần, súc sinh đều gọi là tà dâm. Với vợ mình thì không phạm, nhưng phải tránh phi xứ, tức phi đạo hành dâm. Khi vợ mình đang có thai cũng không được phép, vì sợ thương tổn đến thai nhi. Trong vòng ba năm kể từ khi sinh con, cũng nên tránh hành dâm, vì đề phòng sữa mẹ hết. Nếu có riêng nhũ mẫu cho con, thì không cấm chế”.
Luận Thành thật ghi: “Nếu quan hệ phi xứ với vợ mình, tức từ miệng và chỗ đại tiện, hoặc quan hệ với tất cả người nữ được cha mẹ con cáỉ hộ vệ, hoặc với người nữ đã xuất gia được Phật pháp bảo vệ, đều gọi là tà dâm. Nếu ngườỉ nữ không có chủ, tự họ tình nguyên làm vợ mình trước mọi người đúng như pháp thì không phạm”.
Kinh Đề vị ghi: “Ba tháng trai trong mỗi năm, sáu ngày trai mỗi tháng, hoặc ban ngày, hoặc khi trăng sáng, hoặc lúc đèn sáng, những ngày bát vương, cũng gọi là ngày bát tiết phải tránh quan hệ vợ chồng”.
- Giới không nói dối: Không luận là cảnh thật hay giả, chỉ cần khởi tâm dối trá đều phạm vào giới vọng ngữ. Luận Trí độ ghi: “Có người hỏi:
- Vì sao ưu-bà-tắc phải giữ gìn khẩu nghiệp và tịnh mạng?
Đáp:
- Cư sĩ tại gia muốn tận hưởng niềm vui thế gian, đồng thời muốn tu phúc đức, nên không thể giữ gìn tất cả những giới pháp. Vì thế Đức Phật dạy họ thụ năm giới. Lại nữa, về khẩu nghiệp, tội nói dối là nặng nhất. Bởi nói dối sẽ dẫn đến tạo nhiều lỗi khác, dù là cố ý hoặc không cố ý. Chỉ cần vọng ngữ là đã bao gồm cả ba điều (ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu). Nếu nói lời thật thì đã đầy đủ bốn loại chính ngự. Trong muôn thiện, lợi chân thật đứng đầu.
Luận Thành thật ghi: “Dù nói thật, nhưng nói không đúng lúc thì gọi là ỷ ngữ. Nếu nói đúng lúc, nhưng lại làm người khác buồn rầu, không có lợi ích, hoặc có lợi ích, nhưng lời nói không đúng nghĩa lí, không có căn cứ, gây phiền não đều gọi là ỷ ngữ”.
Luận Ma-đức-lặc-già ghi: “Mách lại lời mắng chửi của người khác, đều phạm tội”.
Luận Tát-bà-đa: "Kết hợp nói dối, lưỡng thiệt, ác khẩu, mỗi mỗi đều có bốn trường hợp:
Một là nói dối, nhưng không phạm lưỡng thiệt và ác khẩu. Nghĩa là đem lời người này mách lại với người kia mà không đúng sự thật, tức nói dối. Vì không cố ý chia rẽ, nên không phạm lưỡng thiệt, vì nói nhã nhặn nên không phạm ác khẩu.
Các câu còn lại cũng tương tự như trên.
Luận Thành thật ghi: “Chỉ ba nghiệp (nói dối, lưỡng thiệt và ác khẩu) là có thể hợp hoặc phân, còn có ỷ ngữ thì không thể phân”.
Kinh Thiện sinh ghi: “Nếu đã vọng ngữ thì đã bao hàm cả tội ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Khi luận về pháp nghĩa, nếu nêu lên những điều đúng sai, nhung chẳng tự cho mình là đúng mà chỉ để giúp người khác hiểu được nguyên do thì không có lỗi, không phạm tội vọng ngữ Nếu không như vậy thì giống như búa ở trong miệng”.
• Giới không uống rượu: Luật Tứ phần ghi: “Ngay cả một giọt rượu bằng giọt nước trên đầu ngọn cỏ cũng không được thâm vào môi”.
Luận Trí độ ghi: “Uống rượu có ba mươi lăm lỗi:
1. Hiện tại tiền bạc và của cải thiếu hụt. Vì sao? Vì uống rượu say, tâm mê loạn không biết tiết kiệm, sử dụng phí phạm.
2. Đầu mối của mọi bệnh tật.
3. Nguyên nhân gây tranh cãi, đánh đập nhau.
4. Thân thể lõa lồ mà không biết xấu hổ.
5. Tiếng xấu lan rộng, mọi người khinh chê.
6. Trí tuệ giảm sút.
7. Vật dụng của cải lẽ ra phải có, nhưng lại không được; vật dụng của cải đã có thì lại bị mất đi.
8. Kể hết những điều bí mật cho mọi người.
9. Mất hết công danh sự nghiệp.
10. Say là nguồn sầu khổ. Vì sao? Vì lúc say thì quên hết, nhưng khi tỉnh lại thì xấu hổ buồn rầu.
11. Sức khỏe yếu dần.
12. Thân thể tàn tạ.
13. Không tôn kính cha.
14. Không tôn kính mẹ.
15. Không kính sa-môn.

Phần 3

16. Không kính bà-la-môn.
17. Không kính chú bác và các bậc tôn trưởng.
Vì sao? Vì khi say đầu óc mê muội, không cốn phân biệt được ai.
18. Không kính Phật.
19. Không kính Pháp.
20. Không kính tăng.
21. Gần gũi bạn bè xấu ác.
22. Xa lánh người hiền thiện.
23. Trở thành người phá giới.
24. Không biết hổ thẹn.
25. Không làm chủ lục tình.
26. Buông lung theo sắc dục.
27. Mọi người ghét bỏ, không muốn nhìn.
28. Quyến thuộc cao sang và những người tri thức ruồng bỏ.
29. Tạo những việc bất thiện.
30. Không biết làm điều lành.
31. Người trí không tin dùng. Vì sao? Vì uống rượu sẽ buông lung.
32. Xa rời niết-bàn.
33. Gieo trồng nhân ngu si.
34. Sau khi chết đọa vào địa ngục.
35. Nếu được làm người cũng bị quả báo cuồng điên.
Nhân uống rượu đưa đến những tội lỗi như trên vì thế không nên uống rượu”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Ưu-bà-tắc thụ năm giới, cho phép buôn bán, nhưng phải tránh năm trường hợp:
1. Không buôn bán súc sinh. Nếu mình có thì cho bán, nhưng không được bán cho những kẻ làm nghề giết, mổ.
2. Không buôn bán cung tên, giáo mác. Nếu mình có thì được bán, nhưng không được phép bán cho gia đình làm nghề giết mổ, săn bắn.
3. Không buôn bán rượu. Nếu mình có thì được bán.
4. Không được ép dầu. Vì trong cây mè có nhiều trùng kí sinh, nếu không có thì không phạm.
5. Không được nhuộm năm màu chính, vì hại nhiều trùng. Như ở Trung Hoa nhuộm màu xanh cũng giết hại rất nhiều trùng, nên xếp vào năm màu chính”.
Kinh Thiện Sinh ghi: “Người đã thụ giới không nên đến năm chỗ:
1. Nhà làm nghề giết mổ súc sinh.
2. Nhà dâm nữ.
3. Quán rượu.
4. Cung điện vua chúa.
5. Nhà của chiên-đà-la.
Lại không được tự làm, cũng không được giao du với những người làm năm nghề sau:
1. Bán thuốc độc.
2. Thuộc da.
3. Gieo xúc xắc.
4. Đánh cờ vây, cờ tướng.
5. Ca múa, hát xướng”.
Kinh Bảo vân ghi: “Người trì giới không được đến nhà người phá giới khất thực”.
Kinh A-hàm ghi: "Tránh xa kẻ xấu, thân cận người tốt. Phải nhanh chóng tránh xa kẻ xấu một trăm do-tuần. Một do-tuần bằng bốn mươi dặm, tràm do-tuần bằng bốn ngàn dặm. Có bốn hạng người xấu cần phải tránh xa:
1. Bạn xấu.
2. Người xấu.
3. Người nói nhiều cười nhiều.
4. Người nhiều sân giận, thích đánh nhau”.
Kinh ưu-ba-tắc ngũ giới tướng ghi: “Phật dạy các tì-kheo:
- Có ba trường hợp giết người, phạm vào giới sát: tự mình giết, dạy người khác giết, sai người khác giết. Tự mình giết, nghĩa là tự tay mình lấy mạng sống của người khác. Dạy người khác giết, nghĩa là nói với người khác rằng: “Ông hãy đến bắt trói người này lại rồi giết chết”. Sai người khác giết, nghĩa là nói với người khác: “Ông biết người đó không? Ông hãy đến bắt trói người đó lại rồi giết chết cho tôi”. Ưu-bà-tắc giết người như thế thì phạm tội không thể sám hối.
Lại có ba trường hợp giết người:
1. Dùng nội sắc: dùng tay đánh, hoặc dùng chân hay bất cứ bộ phận nào trên thân làm cho người kia mất mạng thì phạm tội không thể sám. Nếu ngay lúc đó người kia không chết, sau mới chết, thì cũng không thể sám. Nếu sau đó người kia không chết thì người đánh phạm tội bậc trung, có thể sám hối.
2. Dùng bất nội sắc: dùng cây, đá, dao, mác, cung, tên... để giết người, thì phạm tội đồng như trên.
3. Dùng nội phi nội sắc: dùng tay trói lại rồi lấy cây, đá... đánh chết người, phạm tội cũng đồng như trên.
Dù không dùng ba cách trên, nhưng bôi các loại thuốc độc lên mắt, tai, mũi, thân, hoặc để vào thức ăn hay chăn nệm... làm người kia chết, cũng đồng tội như trên.
Ưu-bà-tắc nào cố tình đào hầm lửa với tâm lừa gạt, nếu người rơi xuống chết thì phạm tội nặng không thể sám hối. Nếu phi nhân, quỉ thần rơi xuống chết thì phạm tội bậc trung, có thể sám. Nếu súc sinh rơi xuống chết thì phạm tội nhẹ, có thể sám. Nếu tất cả đều không chêt thì phạm tội phương tiện nhẹ, có thể sám. Nếu đào hầm lửa cốt để hại người, không cố ý hại những loài khác, thì trường hợp người rơi xuống chết phạm tội không thể sám hối; nếu rơi xuống mà không chết thì pham tội phương tiện. Phi nhân và súc sỉnh rơi xuống chết thì không phạm.
Nếu ưu-bà-tắc nào dùng chú thuật khiến người kia phải chết, hoặc ca ngợi khuyến khích cho họ chết, hoặc thấy người khỏe mạnh, khởi tâm xấu muốn khiến họ chết, hoặc làm người sẩy thai v.v... phạm tội nặng hay nhẹ đều đồng như trên. Nếu có người đi qua lại, ra vào, vô tình làm cây rơi, đá đè... dẫn đến mất mạng thì không phạm. Những trường hợp khác trong luật đã trình bày đầy đủ.
• Giới không trộm cắp: Lấy đồ vật của người với đủ điều kiện sau thì phạm tội nặng không thể sám hối: Dùng tâm, dùng thân, dời chỗ.
- Dùng tâm: khởi tâm niệm muốn trộm cắp.
- Dùng thân: dùng những chi phần trên thân để trộm vật dụng của người khác.
- Dời chỗ: đồ vật ở chỗ này mình lại đem để nơi khác.
Lại có ba trường hợp trộm đồ vật quí giá của người phạm tội không thể sám hối:
1. Tự mình trộm.
2. Dạy người khác trộm.
3. Sai người khác trộm.
Có năm trường họp trộm đồ vật quí giá của người phạm tội không thể sám hối:
1. Hiện tướng đau khổ bi thương để lấy đồ vật cùa người.
2. Hiện tướng hung hăng ngạo mạn để lấy của người.
3. Giả xưng tên người khác để gạt lấy đồ vật.
4. Ép bức để lấy đồ vật của người.
5. Không trả lại đồ vật của người khác gửi.
Vật quí giá, là vật trị giá năm đồng tiền trở lên.

Phần 4

Lại có bảy trường hợp trộm đồ vật của người phạm tội không thể sám hối:
1. Nghĩ không phải là đồ vật của mình.
2. Biết chủ nhân không đồng ý.
3. Biết không được tạm dùng.
4. Biết vật đã có chủ.
5. Không cuồng điên.
6. Không loạn tâm.
7. Tâm không bệnh.
Trộm vật đáng giá của người khác trong bảy trường hợp trên đều phạm tội không thể sám. Nếu trộm vật giá trị dưới năm đồng tiền thì phạm trung tội, có thể sám. Còn lấy vật của người ngược với bảy trường hợp trên thì không phạm tội.
• Giới tà dâm: Tà dâm có bốn đối tượng: nam, nữ, huỳnh môn, người hai căn! Nữ thì có nữ loài người, nữ phi nhân, nữ súc sinh. Nam thì có nam loài người, nam phi nhân, nam súc sinh. Huỳnh môn và người hai căn cũng có ba loại đồng như trên.
Nếu ưu-bà-tắc nào hành dâm ở ba nơi: miệng, chỗ đại tiện, tiểu tiện của nữ loài người, nữ phi nhân,. nữ súc sinh thì phạm tội không thể sám. Nếu hành dâm ở miệng và chồ đại tiện của nam loài người, nam phi nhân, nam súc sinh, huỳnh môn và người hai căn thì phạm tội không thể sám. Nếu khởi tâm muốn hành dâm, tuy chưa xúc chạm, vẫn phạm tội không thể sám.
Nếu hai thân đã xúc chạm nhau, nhưng không hành dâm thì phạm trung tội, có thể sám. Trừ ba chỗ trên, nếu hành dâm ở những nơi khác trên thân thì phạm tội có thể sám. Nếu hành dâm tại ba chỗ trên với người nữ đã chết, cho đến súc sinh đã chết, nhưng thân căn chưa hoại thì phạm tội không thể sám. Nếu xúc chạm những chỗ khác thì tội cũng đồng như trên.
Nếu người chưa thụ giới, nhưng phá Phạm hạnh của đệ tử Phật, tuy không phạm lỗi phá giới, nhưng về sau vĩnh viễn không được thụ năm giới, tám giới, cho đến xuất gia thụ cụ túc giới. Nếu do tâm trí cuồng loạn, không tự nhận biết thì không phạm.
Phật bảo các tì-kheo: “Như Lai có hai thân, một là sinh thân, hai là giới thân. Nếu thiện nam tử vì sinh thân của Như Lai mà xây tháp báu bảy tầng cúng dường, sẽ được sinh vào cõi Phạm thiên. Người nào làm tổn hại sinh thân của Như Lai, sẽ chịu tội báo, nhưng có thể sám hối. Nếu hủy phạm giới thân của Như Lai thì phạm tội không thể sám hối, phải chịu khổ vô lượng, như long vương Y-bát-la"
• Giới vọng ngữ: Phật bảo các tì-kheo: Như Lai thường quở trách lỗi nói dối, khen ngợi người không nói dối; dù là đùa giỡn cũng không được dối, huống là cố ý nói. Nếu ưu-bà-tắc không thấy, không biết pháp của bậc thánh mà tự nói: ‘Tôi là người đã chứng quả A-la-hán cho đến đắc Tứ thiền, từ bi hỉ xả, tứ không định, bất tịnh quán, sổ tức quán. Trời, rồng đến cúng dường tôi. Người kia đến hỏi nghĩa, tôi trả lời’. Người nói như vậy, đều phạm tội không thể sám. Nếu thật thấy lại nói không thấy, thật nghe nói không nghe, thật nghi nói không nghi, có nói không, không nói có... đều gọi là tiểu vọng ngữ, có thể sám hối. Nếu khởi tâm nói dối, nhưng chưa thốt ra lời, tội này có thể sám; hoặc nói không hết ý tuy phạm vẫn cho sám hối. Nếu chính mình nói đã chứng thánh quả thì phạm tội không thể sám hối. Những người cuồng tâm, loạn tâm, không tỉnh táo nói dối cũng không phạm.
• Giới không uống rượu: Phật bảo các tì-kheo: Nếu đã tự xưng là đệ tử Phật thì không được uống rượu, dù một giọt nhỏ như giọt sương đọng trên đầu ngọn cỏ cũng không được uống. Rượu có hai loại, là rượu ngũ cốc và rượu thảo mộc. Rượu ngũ cốc là dùng năm loại hạt như đậu, gạo... trộn lẫn để làm ra. Rượu thảo mộc là dùng rễ, thân, lá, quả của các loại cây cỏ trộn lẫn chế biến thành. Màu sắc, hương và vị của hai loại rượu này làm người uống vào đều say, nên gọi là rượu. Nếu nếm thấm vào họng cũng gọi là uống, nếu nhấm rượu ngũ cốc thấm đến cổ liền phạm. Nếu uống hoặc nhấm rượu có vị chua, hoặc vị ngọt, hoặc ăn men rượu, bã rượu, hoặc uống cặn rượu, hoăc uống loại nước có màu, mùi và vị giống rượu... làm say người thì phạm, Nếu màu sắc giống rượu, nhưng không có mùi vị rượu, uống vào không say thì không phạm. Theo luật Tứ phần, nếu tì-kheo bệnh cần dùng loại thuốc có rượu để điều trị, thì uống vào không phạm. Người bị bệnh cuồng loạn, không hiểu biết, nếu uống cũng không phạm”.
87.4.5. Được và không
Hỏi: về giới, thụ một lần, hoặc thụ dần dần thì thế nào?
Đáp: Đều được.
Luận Thành thật ghi: “Có người hỏi:
- Thụ hết năm giới được hay không?
- Thụ nhiều hay ít đều được giới luật nghi, nhưng tốt hơn hết là nên thụ trọn năm giới.
Kinh ưu-bà-tắc ghi: “Có người giữ một phần, hoặc giữ thiểu phần, hoặc không giữ phần nào, hoặc giữ đa phần, hoặc giữ mãn phần. Nếu thụ tam qui rồi mà chưa thụ năm giới cũng gọi là ưu-bà-tắc. Nếu thụ tam qui và giữ một giới thì gọi là nhất phần ưu-bà-tắc. Thụ tam qui và giữ hai giới thì gọi thiểu phần ưu-bà-tắc. Nếu thụ tam qui và giữ một giới mà lại phá giới thì gọi là vô phân ưu-bà-tắc. Nếu thụ tam qui và giữ bốn giới thì gọi là đa phần ưu-bà-tắc. Nếu thụ tam qui và thụ năm giới gọi là mãn phần. Nay ông muốn thụ bao nhiêu phần? Lúc ấy. người trí nên tùy tâm nguyện của giới tử mà truyền giới”.
Luận Trí độ ghi: “Có năm giới, bắt đầu từ giới không sát sinh cho đến giới không uống rượu. Nếu thụ một giới là thực hành một phần. Nếu thụ hai, ba giới thì gọi là hành thiểu phần. Nêu thụ bốn giới thì gọi là hành đa phần. Nếu thụ năm giới thì gọi là hành mãn phần.
Người muốn đoạn dâm dục, sau khi thụ năm giới, nên đến trước giới sư phát nguyện:
- Kể từ hôm nay con đối với chồng (hoặc vợ) mình không còn hành dâm”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Dù thụ một phần hoặc hai phần đều được”.
Hỏi: Nếu dần dần thụ như thế, có thể theo năm vị giới sư thụ ở mỗi vị một giới không?
Đáp: Như kinh Phó pháp tạng ghi: “Tôn giả Bạt-câu-la thụ một giới không sát sinh, được phúc báo năm lần gặp họa mà không chết”.
Hỏi: Có được thụ lại nhiều lần không? Thụ năm giới rồi, sau đó thụ lần nữa được không?
Đáp: Theo luận Thành thật, được thụ lại. Luật Tứ phần ghi: “Phu nhân Mạt-lợi được theo Phật thụ giới hai, ba lần”.
Hỏi: về thời gian, có được phép thụ trì năm giới trong thời hạn ba mươi ngày rồi xả không?
Đáp: Theo luận Thành thật, được thụ nhiều ngày cho đến suốt đời. Luận Thập tụng cũng ghi: “Dù thụ năm giới một ngày, hoặc một đêm cũng được một chút thiện”.
Kinh ưu-ba-tắc giới ghi: “Người trí nên xem xét, giới có hai loại: một là giới thế gian, hai là giới Đệ nhất nghĩa. Nếu người thụ giới không nương Tam bảo gọi là giới thế gian, là giới không vững chắc, như nhuộm màu không có chất keo kết dính. Vì thế trước tiên ta phải qui y Tam bảo, sau mới lãnh thụ giới pháp. Giới thế gian không thể phá trừ các nghiệp ác, nhưng thụ Tam qui thì có thể diệt được. Dù tạo tội nặng cũng không mất giới. Vì sao? Vì nhờ năng lực của giới. Thí như có hai người đồng tạo tội, một người có thụ giới, một người không thụ giới, người thụ giới phạm thì tội nặng, còn người chưa thụ giới, phạm thì tội nhẹ. Vì sao vậy? Vì hủy báng lời Phật dạy”.
Tội có hai loại: tính tội và giá tội. Hai loại tội này lại chia ra nặng và nhẹ. Có người tạo tội nặng có thể chuyển thành nhẹ, có người tội nhẹ lại trở thành nặng. Như Ương-quật-ma thụ giới thế gian, rồng Y-la-bát thu giới Đệ nhất nghĩa, ương-quật-ma phá tính giới, nhưng không phạm tội trọng. Rồng Y-la-bát phá già giới mà lại phạm tội trọng. Vì thế không nên cho rằng giới đồng thì quả báo cũng đồng”.
87.4.6. Thần hộ vệ
Kinh Thất Phật ghi: “Người nào thụ trì năm giới, sẽ cảm ứng đến hai mươi lăm thiện thần hộ vệ.
Năm vị thần hộ vệ người thụ giới không sát sinh-Ba-trá-la, Ma-na-tư, Bà-hầu-la, Hô-nô-trá, Phả-la-trá
Năm vị thần hộ vệ người thụ giới không trộm cắp: Pháp Thiện, Phật Nô, Tăng Hỷ, Quảng Ngạch Từ Thiện.
Năm vị thần hộ vệ người thụ giới không tà dâm: Trinh Khiết, Vô Dục, Tịnh Khiết, Vô Nhiễm, Đãng Địch.

Phần 5

Năm vị thần hộ vệ người thụ giới không nói dối: Mĩ Chỉ, Thật Ngữ, Chất Trực, Trực Đáp, Hòa Hợp Ngữ.
Năm vị thần hộ vệ người thụ giới không uống rượu: Thanh Tố, Bất Túy, Bất Loạn, Vô Thất, Hộ Giới”.
Kinh Quán đỉnh ghi: “Phật bảo Phạm chí: ‘Người nào thụ trì năm giới sẽ được hai mươi lăm thiện thần luôn vây quanh bảo vệ và canh giữ nhà cửa phòng ốc, giúp vạn sự đều được an lành.
Phạm chí thưa:
-Bạch Thế Tôn! Xin cho con được nghe danh hiệu của những vị thiện thần ấy.
Phật bảo:
- Này Phạm chí! Nay ta sẽ lược nói cho ông rõ. Ta sẽ bảo Đế Thích lệnh cho bốn vị thiên vương sai hai lăm vị thiện thần bảo vệ ông:
1. Thiện thần Thái-sô-tì-dũ-tha-ni bảo vệ thân thể tránh các bệnh tà ma.
2. Thiện thần Thâu-đa-lợi-thâu-đà-ni bảo vệ và giúp sáu căn hoàn chỉnh.
3. Thiện thần Tì-lâu-giá-na-thế-ba bảo vệ và giúp ngũ tạng điều hòa.
4. Thiện thần A-đà-long-ma-chỉ bảo vệ và giúp huyết mạch lưu thông.
5. Thiện thần Bà-la-hoàn-ni hòa-bà bảo vệ móng tay không bị thương tổn.
6. Thiện thần Để-ma-a-tì-bà-đà bảo vệ người thụ giới ra vào, đến đi được an ổn.
7. Thiện thần A-tu-thâu-bà-la-đà bảo vệ và giúp có được những thức ăn uống thơm ngon.
8. Thiện thần Bà-la-ma .Thiện Hùng Thư bảo vệ người giữ giới ngủ nghỉ an lạc, thức dậy vui vẻ.
9. Thiện thần Bà-la-môn Địa-tì-đá bảo vệ người trì giới không để bị trùng độc xâm hại.
10. Thiện thần Na-ma-hô-xỉ-đá-da-xá bảo vệ người trì giới không để bị khí độc của sương móc làm hại.
11. Thiện thần Phật-đà-tiên-đà-lâu-đá bảo vệ người trì giới tránh được sự tranh cãi.
12. Thiện thần Tì-xà-da-tẩu-đa-bà bảo vệ người trì giới tránh các dịch bệnh, truyền nhiễm.
13. Thiện thần Niết-nê-hề-đà-đa-da bảo vệ không để bị quan huyện bắt giữ.
14. Thiện thần A-la-đa-lại-đô-da bảo vệ không để nhà cửa bị tai ương.
15. Thiện thần Ba-la-na-phật-đàm bảo vệ tám vị thần an định nhà cửa.
16. Thiện thần A-đề-phạm-giả-san-da bảo vệ không để bị quỉ chốn tha ma quấy nhiễu.
17. Thiện thần Nhân-đài-la-nhân-đài-la bảo vê không để cửa nhà bị tà ác.
18. Thiện thần A-già-lam-thí-bà-đa bảo vệ không để bị quỉ thần hại.
19. Thiện thần Phật-đàm-di-ma-đa-xỉ bảo vê không để bị nạn lửa thiêu.
20. Thiện thần Đa-lại-xoa-tam-mật-đà bảo vệ không để bị trộm cướp.
21. Thiện thần A-ma-la-tư-đâu-hỉ bảo vệ không để người trì giới bị hổ lang hại khi vào núi rừng.
22. Thiện thần Na-la-môn-xà-đâu-đế bảo vệ không để bị thương vong.
23. Thiện thần Bì-ni-càn-na-ba bảo vệ khỏi nạn chim kêu chồn rú.
24. Thiện thần Trà-bì-đấu-tì-xá-la bảo vệ không để bị nạn chó chuột.
25. Thiện thần Già-ma-tì-na-xà-ni-khư bảo vệ không để bị tai ương đeo đuổi.
Đức Phật nói với Phạm chí:
- Nếu có người nam người nữ nào đeo tên hai mươi lăm thiện thần quán đỉnh này trên thân, lúc vào trong quân trận chiến đấu sẽ không bị gươm đao làm tổn thương, cung tên không bắn trúng, quỉ thần la-sát không quấy nhiễu. Nếu người này đến những nhà chuyên dùng phép thuật mê hoặc cũng không bị hại.
Nếu có ra vào lui tới nơi có ma quỉ, chúng cũng không dám đến gần.
Khi đã đeo tên các thần vương này trên thân thì ngủ không gặp ác mộng, không bị quan quân, giặc cướp, nạn nước lửa, oan gia âm thầm mưu hại; tự nhiên không còn cãi cọ đấu tranh, hai bên hòa giải và phát sinh lòng từ, tâm xấu biến mất. Yêu ma xảo quyệt, quỉ quái ngang ngạnh, ngoại đạo bùa chú trù yểm cũng không hại được. Yêu tinh cây cối, yêu tinh côn trùng, yêu tinh chim thú, yêu tinh suối hang không dám quấy nhiễu. Quỉ thần cửa, quỉ thần nhà, quỉ thần giếng, bếp, quĩ thần hồ ao, quỉ thần nhà xí... không bám vào thân. Nếu người nam người nữ nào đeo tên thiện thần hộ Tam qui ngũ giới này thì khi vào núi sâu, băng qua suối hang, đi giữa đường vắng cũng không gặp giặc cướp; sư tử hổ lang, gấu to, rắn độc... đều ẩn nấp, không dám hại.
87.5. TÁM GIỚI
87.5.1. Lời dẫn
Giới định tuệ là nền tảng to lớn của việc giáo hóa, chúng thánh đồng noi theo, hàm linh đều xem trọng. Nay tôi chỉ lấy giới luật làm tông yếu, định tuệ qui hướng theo. Nếu người nào không thuận theo thì chân tâm chẳng hiển bày. Thế nên, đức Đại Bi thương xót cứu độ chúng sinh, lập pháp tu hành để chứng nghiệm. Trong đó, người bị mê hoặc trói buộc thì nương lí để chứng nhập, kẻ bị nghiệp ràng thì theo tướng mà hành trì. Thế mới mong niệm niệm được phản tỉnh, ngày ngày sách tấn. Không ngừng nỗ lực công phu, chân tâm mới dần dần hiển lộ. Nhưng thiện ác do mình, vừa khởi niệm thì có thăng trâm. Không tạo thì thôi, hễ tạo liền thành nghiệp. Dây nghiệp lưới mê ngày càng thắt chặt. Cho nên phải chân thật chịu gian khổ chế ngự thân tâm, buồn thương cho nhân xấu ngày xưa, sợ hãi quả ác mai sau đến, quyết thệ lập kì hạn vĩnh viễn chặt đứt tương tục. Do đó trong kinh dạy phải trang nghiêm đạo tràng, tắm gội sạch sẽ, đắp y mới, trong ngoài đều thanh tịnh, đối trước Đức Phật phát lồ sám hối, gieo minh xuống đất như núi Thái đổ, năm vóc khẩn thiết qui y Tam bảo, chí thành hồi hướng rồi mới thụ giới.
Thời gian thụ trì giới này tuy ngắn, nhưng nếu dốc lòng thiết tha, thành khẩn thì sẽ thành tựu Tam tụ tịnh giới, cứu độ chúng sinh trong bốn cõi. Công của giới vượt hơn trời người, đức bằng quả vị Phật. Luận Trí độ ví giới như vị tướng giỏi, cũng ví giới đồng với Phật.
87.5.2. Giải thích tên
Hỏi: Vì sao trong các kinh luận gọi là bát quan trai, quan giới?
Đáp: “Bát” là đóng kín tám nghiệp ác, không tạo tội lỗi. “Trai” là không ăn phi thời, cũng gọi là “tề”, nghĩa là ngăn chặn không để sáu căn đắm nhiễm sáu trần, quyết đoạn trừ mọi điều ác, tu tập các điều lành.
Trai và giới đồng thể tính, chỉ khác tên gọi. Nếu theo tên để nói về thể, thì thể cũng có ít sai biệt. Như nói “trai” là không ăn quá ngọ, “giới” là ngăn lỗi, dứt ác. Nên luận Tát-bà-đa có ghi: “Tám điều trước là giới, điều thứ chín là trai. Vì thế, trai và giới gom lại thành chín”.
87.5.3. Công năng
Kinh Trai pháp ghi: “Già như đem vô số châu báu chất đầy trong mười sáu quốc gia lớn trong thiên hạ để cúng dường bố thí, phúc báo này cũng không bằng một ngày giữ trai giới của Phật. So với phúc báo giữ trai giới, phúc đức bố thí kia chỉ bằng một hạt đậu nhỏ mà thôi”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Khi các vị thánh đệ tử đa văn của Đức Phật giữ bát quan trai, họ luôn nhớ nghĩ đến mười danh hiệu của Như Lai, vì thế những vọng niệm xấu ác đều diệt”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu có người đem bốn kho báu lớn đựng đầy bảy báu để cúng dường, công đức của người này vẫn không bằng người thụ trì Bát quan trai trong một ngày đêm. Nhờ công đức thụ, trì này, tất cả những tội chướng đều được tiêu diệt, chỉ trừ tội ngũ nghịch, được phúc báo vô lượng và có được niềm an lạc vô thượng. Dù giữ trai giới một trăm năm trong thời Phật Di-lặc, cũng không bằng giữ trai giới một ngày đêm giữa đời ngũ trược hiện nay”.
Luận Trí độ ghi: “Hỏi: Giữ năm giới và bát quan trai giữ một ngày, giới nào thù thắng hơn?
Đáp: Vì có nhân duyên, tuy hai giới như nhau nhưng năm giới thì phải trọn đời gìn giữ, còn bát quan trai lại chỉ thụ trong một ngày. Năm giới phải thường xuyên gìn giữ, thời gian nhiều nhưng giới ít. Một ngày trì bát quan trai thì thời gian ít mà giới nhiều. Nếu người không có tâm rộng lớn thì tuy có trì suốt một đời cũng không bằng người có tâm rộng lớn trì giới trong một ngày. Thí như kẻ không có thực tài

Phần 6

dù làm tướng lĩnh suốt đời, đến lúc chết vẫn không có chút công danh, còn như bậc anh hùng dốc lòng dẹp loạn, chỉ lập công trong một ngày, thanh danh đã trùm khắp thiên hạ. Bát quan trai giới sánh với những giới khác cũng giống như vậy”.
Luận Trí độ ghi: “Hỏi: Cư sĩ tại gia chỉ thụ năm giới, không có những pháp khác sao?
Đáp: Có giới một ngày giữ gìn vào sáu ngày trai, công đức vô lượng. Nếu suốt mười hai tháng, cứ đến ngày rằm thụ trì giới này thì được phúc đức vô lượng.
Hỏi: Vì sao trong sáu ngày trai phải trì Bát quan trai, tu phúc đức?
Đáp: Vì những ngày này chúng quỉ thần đi theo con người để đoạt mạng sống, gây tật bệnh, chết chóc, khiến con người không an lạc. Vì vậy từ kiếp sơ, thánh nhân đã dạy giữ trai giới, tu thiện tạo phúc để tránh chết chóc. Bây giờ không có thụ bát quan trai, chỉ giữ một ngày không ăn làm ngày trai giới. Đến khi Đức Phật ra đời, Ngài mới dạy chúng ta giữ trai giới một ngày một đêm, như chư Phật thụ trì Bát quan trai không ăn quá ngọ. Công đức. này sẽ đưa chúng sinh đến niết-bàn giải thoát.
Trong kinh Tứ thiên vương, Đức Phật dạy! “Sáu ngày trai trong mỗi tháng, thái tử sứ giả và Tứ thiên vương xuống trần để quan sát chúng sinh. Nếu thấy chúng sinh không biết bố thí, trì giới, hiếu thuận cha mẹ, thì trở về cõi trời Đao-lợi thưạ lại với Đế Thích. Biết được như vậy, chư thiên đều không vui. Nếu thấy phần lớn chúng sinh biết bố thí, trì giới, hiếu thuận cha mẹ, thì chư thiên và Đế Thích đều rất vui.
Bấy giờ Thích-đề-ba-na-thị nói kệ:
Sáu ngày, tháng Thần túc Ai thanh tịnh trì giới Thì sau khi mạng chung Có công đức như ta.
Đức Phật bảo Thích-đề-hoàn-nhân:
- Như Lai không vọng ngữ! Nếu người nào giữ giới một ngày sẽ được công đức phúc báo ngang bằng Như Lai, đây là sự thật. Nơi nào có người trì giới này, thì nơi ấy an ổn, ác quỉ tránh xa. Cho nên, người trì trai giữ giới trong sáu ngày trai, được phúc rất nhiều.
Hỏi: Vì sao các quỉ thần hung ác lại thường não hại chúng sinh trong sáu ngày trai này? "
Đáp: Kinh Thiên địa bản khởi ghi: “Vào kiếp sơ, một vị Phạm thiên vương có người con trai rất kì lạ, là cha của các quỉ thần như Ma-hê-thủ-la v.v... Người này chuyên tu khổ hạnh như một Phạm chí. Cứ vào sáu ngày trai, người con này đều cắt thịt ném vào hầm lửa, trải qua mười hai năm, Phạm thiên vương đến hỏi con trai:
- Con làm như thế để cầu điều gì?
Đáp: Con cầu có con trai!
Thiên vương nói:
- Phép tiên nhân cúng dường là đốt hương, dâng quả ngon ngọt. Cớ sao con lại cắt thịt ném vào lửa. Phương pháp này thật tội lỗi. Con đã phá hoại pháp lành, gây tạo việc ác, về sau sẽ sinh con cái độc ác chuyên ăn thịt uống máu!
Thiên vương chưa dứt lời, trong hầm lửa liền xuất hiện tám con quỉ lớn, thân đen như mực, tóc vàng, mắt đỏ, phát ánh sáng lớn. Các quỉ thần như Ma-hê-thủ-la... cũng sinh ra từ tám con quỉ lớn này. Đó là lí do mà các quỉ thần như Ma-hê-thủ-la... có thế lực lớn mạnh, thường não hại chúng sinh trong sáu ngày trai.
Trong loài quỉ, Ma-hê-thủ-la có uy quyền nhất. Một tháng có nhiều nhật phần, trong đó Ma-hê-thủ-la cai quản đến bốn nhật phần là mồng tám, mười bốn, hai mươi ba, hai mươi chín. Những quỉ thần khác chỉ có hai nhật phần là mồng một và ngày mười sáu. Còn ngày mong hai, mười bảy, mười lam, và ba mươi là nhật phần chung của tất cả các quỉ thần khác. Ma-hê-thủ-la là thần vương,, lại được nhiều ngày, nên lấy bốn ngày này làm ngày trai. Những ngày khác là ngày của tât cả quỉ thân, cũng lấy làm ngày trai. Cho nên các quỉ thần bạo ác trong sáu ngày trai này rất có thế lực. Nhưng theo pháp Phật thì không có ngày nào là tốt hay xấu, tất cả đều tùy thuộc vào nhân duyên xấu ác ở đời. Vì thế, Đức Phật dạy chúng sinh phải giữ trai giới để trừ những tai họa”.
Kinh Đề-vị ghi: “Trưởng giả Đề-vị bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Nói mọi năm có ba tháng trai, nhất định là có nguyên nhân. Vì sao ba tháng trai lại là tháng giêng, tháng năm, tháng chín; sáu ngày trai phải là ngày mùng tám, mười bốn, mười lăm, hai ba, hai chín, ba mươi?
Phật đáp:
- Tháng giêng hợp với các việc thuộc thiếu dương, là thời điểm vạn thần đổi vị, âm dương giao hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở, đó là nhờ đạo khí nuôi dưỡng. Nên từ ngày mùng một đến ngày rằm tháng giêng, thái tử trì trai, tu đạo tịch tĩnh, trợ giúp hòa khí nuôi dưỡng vạn vật. Tháng năm hợp với các việc thuộc thái dương, vạn vật chuyển vị, mầm chồi cỏ cây đã nẩy, trăm thú bào thai chưa thành, nếu thành thì chưa thụ. Tất cả mầm sống này đều nhờ vào đạo khí. Vì thế phải trì trai từ mùng một đến ngày rằm tháng năm để trợ giúp đạo khí. nuôi lớn vạn vật. Còn tháng chín là tháng hợp với các việc thuộc thiếu âm, là lúc trời đất chuyển vị, vạn vật đều đến thời ki cuối, suy tàn không bền chắc, chúng sinh ẩn nấp, thần khí trở về nguồn cội, nhân đó đạo khí tự an. Vì thế phải trì trai từ mùng một đến rằm tháng chín. Mùa xuân vạn vật sinh, mùa hạ vạn vật phát triển. mùa thu vạn vật héo úa, mùa đông vạn vật suy tàn. Theo đạo lí sinh diệt này, trời đất cũng có những điều tối kị. Vì thế, Như Lai dạy những đệ tử hành thiện, phải thụ trì trai giới, tránh nhừng điều cấm kị, đế cứu giúp thần khí.
Trưởng giả Đề-vị lại bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao trong ba tháng trai lại chỉ tu trì từ mùng một đến rằm. Vi sao gọi là cấm kị?
Phật dạy:
- Bốn mùa xoay vần, âm dương đổi dời, một năm ba lần phúc thẩm, tám lẩn kiểm xét, mỗi tháng sáu lần tấu trình. Chúng sinh trong ba cõi mênh mông, nhưng đều có sổ sách ghi chép, trong năm chỗ hành vi của chúng sinh tuy có khác nhau, đều do năm vị quan quản lí phán định tội phúc. Chúng sinh có cao thấp, phẩm cách cũng muôn nẻo. Chư thiên Đế Thích, sứ giả thái tử, mặt trời, mặt trăng, quỉ thần, địa ngục, diêm-la, trăm vạn chúng thần v.v... vào ngày mùng một tháng giêng, mùng một tháng năm, mùng một tháng chín, xuất phát tuần hành tra xét tất cả việc làm thiện ác từ vua quan, thứ dân, cho đến các loài chim thú, quỉ, rồng.. .để bảo cho bốn vị thiên vương. Vào ngày mừng tám, ngày rằm và ngày ba mươi trong tháng, Bốn vị thiên vương xem lại những điều đã tấu có đồng nhất không, để xét xử công bằng, tránh sự oan uổng. Tra xét tội phúc của chúng sinh trong ba cõi, người nào phúc nhiều sẽ được sinh thiên. Trên thì lệnh của bốn vị thiên vương, ngũ la đại vương, ti mệnh... tăng thêm tuổi thọ cho người ấy. Dưới thì Diêm-la vương sẽ lệnh ngũ quan xóa tội. Vì định phúc lộc, nên Như Lai mới khuyên trì trường trai trong ba tháng này. Vì thế, ba lẩn phúc thẩm tám lần kiểm xét chính là ngày Bát vương vậy. Đây cũng là ngày trời Đế Thích phái tứ trấn, ngữ la tử vương, địa ngục vương, a-tu-luân và chư thiên đì tuần hành xem xét để ấn định sinh tử, tăng giảm tội phúc cho những người có tâm đạo, không tâm đạo. tâm đạo nhiều, tâm đạo ít, thông hiểu hay không thông hiểu, xuất gia hay không xuất gia... kiểm tra so sánh số lượng.
Thế nào là ngày Bát vương? Đó là ngày lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí. Vì đó là những ngày trời, đất, các thần, âm dương thay đổi, nên gọi là ngày bát vương. Mỗi tháng vào ngày mùng tám, mười bốn, mười lăm, hai ba, hai chín, ba mươi đều là ngày thuận với sự vận hành của trời đất. Ngày thượng huyền mồng bảy, mông tám, hạ huyền ngày hai mươi hai, hai ba, ngày rằm, ngày mồng một, hai chín, ba mươi đều là ngày kiểm tra sổ sách tấu trình lên trên. Nên Như Lai dạy vào những ngày này phải trì trai giới, kiểm xét tự thân để không phạm những điều cấm, về sau sẽ sinh vào cõi lành”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Nếu thiện nam thiện nữ nào muốn thụ bát quan trai để xa lìa các khổ, dứt sạch các lậu, vào thành Niết-bàn thì phải tìm cách tu bát quan trai này. Con người hiển vinh cũng chưa phải là quí, bởi ở cõi trời còn có vô lượng niềm vui tột bậc. Cho nên người nào muốn cầu phúc báo vô thượng cõi trời thì phải thụ trì bát quan trai. Muốn sinh vào Lục Dục thiên, sắc, Vô sắc giới thiên cũng phải thụ trì bát trai này. Muốn được làm thiên tử một phương, hai phương, ba phương, bốn phương hoặc Chuyển luân thánh vương cũng phải giữ tám giới này. Muốn cầu quả vị Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa cũng phải tu pháp này. Ngày nay Như Lai thành tựu quả vị Phật là nhờ thụ trì bát quan trai giới, năm giới, thập thiện giới; mọi sở nguyện đều được viên thành”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Đức Phật dạy:
- Đại vương! Tại nước Ba-la-nại, có con của nhà đồ tể nọ tên là Quảng Ngạch, mỗi ngày đều giết rất nhiều dê. Một hôm gặp Xá-lợi-phất, anh ta liền xin thụ Bát giới

Phần 7

một ngày đêm. Nhờ nhân ấy, sau khi mạng chung, anh ta được làm con của Tì-sa-môn thiên vương ở phương bắc. Thụ giới từ đệ tử Phật mà có công đức lớn như thế, huống là thụ từ Như Lai!”
Kinh ưu-bà tắc giới ghi: “Phật dạy:
-Này thiện nam! Chúng sinh đời sau thân cao tám trượng, thọ mạng đến tám vạn bốn nghìn tuổi. Người thụ giới lúc ấy cùng với người thụ giới trong đời ác hiện nay được quả báo đồng như nhau. Vì sao thế? Vì tam thiện căn bình đẳng”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Thuở xưa, sau khi Phật Ca-diếp diệt độ, giáo pháp cũng sắp diệt. Lúc ấy, có hai Phạm chí đồng đến xin thụ bát giới ở một vị tì-kheo. Một người nguyện được sinh thiên, một người nguyện được làm vua. Người phát nguyện được sinh thiên vừa về đến nhà đã bị vợ ép ăn phi thời, do phá giới nên sinh vào loài rồng. Còn người nguyện làm vua giữ giới trọn vẹn nên được sinh vào dòng vua chúa, làm đại quốc vương. Bấy giờ, trong vườn cây vị vua này có rất nhiều quả ngon. Vua sai một người đến giữ vườn tùy mùa hái quả dâng vua. Một hôm người ấy vào vườn nhặt được một quả nại, màu sắc đẹp, hương vị rất ngon, liền biếu cho người giữ cửa. Người giữ cửa lại đem biếu cho người khác, cứ thế lần lượt đến tay vua. Vua ăn thấy rất ngon, liền hỏi hoàng hậu. Lần lượt tra hỏi mới biết trái này xuất phát từ người giữ vườn. Vua liền cho gọi người giữ vườn đến trách:
- Từ nay về sau ngươi phải dâng quả này cho ta!
Người giữ vườn tâu:
-Thưa bệ hạ! Quả này không có hạt giống làm sao trồng được?
Vua nói:
- Nếu không được, ta sẽ lấy đầu ngươi!
Người ấy trở về vườn, buồn bã khóc lóc. Bây giờ, một con rồng từ dòng suối vọt lên biến thành người, hỏi ông giữ vườn sao lại khóc. Ông ta kể hết mọi chuyện. Nghe xong, rồng lặn xuống dòng nước rồi đem một mâm bằng vàng đựng đầy quả nại trao cho người giữ vườn và bảo ông ấy dâng lên vua. Rồng còn dặn người giữ vườn tâu vua, rằng ông ta và vua vốn là bạn thân, xưa kia cả hai đều là Phạm chí, cùng thụ Bát quan trai giới; mỗi người một sở nguyện, nhờ giữ giới trọn vẹn nên vua được toại nguyện, còn mình giữ giới không trọn vẹn nên phải làm thân rồng. Nay muốn tu tập Bát quan trai giới, để xả báo thân này. Vì thế vua phải tìm văn kinh Bát quan trai mang đến cho rồng. Nếu không làm theo lời, rồng sẽ phá đất nước của vua thành biển cả.
Người giữ vườn mang quả nại dâng vua và tâu lên ý nguyện của rồng. Nghe xong, vua rất lo buồn. Bới vì hiện đời không có Phật pháp, nên khó tìm được văn kinh Bát quan trai. Vua liền lệnh một đại thần đến, nói rõ yêu cầu của rồng và bảo:
- Khanh phải tìm cho được văn kinh này nếu không ta sẽ lấy đầu khanh!
Về đến nhà, vị đại thần này rất lo buồn. Người cha thấy con mình sắc mặt không vui liền hỏi nguyên do. Đại thần kể lại sự việc. Nghe xong, người cha nói:
- Cha thấy cây cột của nhà mình thường phát ra ánh sáng. Con hãy chẻ ra xem thử, biết đâu có vật gì đặc biệt!
Hai cha con chẻ ra thì thấy hai quyển kinh là Thập nhị nhân duyên và Bát quan trai giới. Đại thần liền dâng lên vua. Vua rất vui mừng, đích thân mang kinh văn đến trao cho rồng. Nhận được kinh văn, rồng tặng lại vua rất nhiều trân bảo. Nhân đó, vua và rồng đều thụ trì Bát quan trai giới. Sau khi mạng chung, cả hai đều được sinh lên cõi trời, đồng ở một chỗ. Đến khi Đức Phật Thích-ca ra đời, cả hai lại đến đỉnh lễ Phật, nghe thuyết pháp, và đều chứng quả Tu-đà-hoàn, sau đó trở về lại cõi trời”.
Luận Trí độ ghi: “Người nào muốn được lợi ích lớn phải nên trì giới. Giới như mặt đất, vạn vật có hình thể đều nương vào đó mà sinh trưởng. Cũng vậy, tất cả pháp lành đều nhờ giới mà phát sinh, Ở thế gian, người hạ phẩm trì giới sẽ được sinh vào loài người, trung phẩm trì giới được sinh lên cõi trời, thượng phẩm thanh tịnh trì giới sẽ chứng quả vị Phật. Ngược lại, người phá giới bị đọa vào ba đường ác. Thế nên Phật dạy:
- Người trì giới thì mọi việc đều thành tựu, người phá giới thì mất tất cả, Thí như có người chán ghét sự nghèo cùng, phát tâm cúng dường chư thiên trọn mười hai năm để cầu sự giàu sang. Thương cho người này, một vị trời bèn hiện thân đến hỏi:
- Ông mong cầu điều gì?
Người ấy đáp:
- Tôi cầu giàu sang và muốn mọi ý nguyện của mình đều thành tựu.
Nghe vậy, vị trời liền cho người ấy một chiếc bình gọi là Đức bình và nói:
- Chiếc bình này sẽ cung cấp đày đủ mọi thứ, ông cầu gì được nấy!
Sau khi nhận chiếc bình và làm thử theo ý nguyện của mình, người này thấy tất cả đều tốt đẹp. Thế là người nghèo ấy liền tạo ra nhà đẹp, voi ngựa, xe cộ, bảy báu cung cấp cho mọi người. Thấy vậy, một người hỏi:
- Trước đây anh rất nghèo, sao nay trở nên giàu có như vậy?
Người nghèo kia đáp:
- Tôi có bình báu cõi trời, nhờ chiếc bình này mà muốn gì được nấy, nên tôi trở nên giàu có.
Người khách nói:
-Anh hãy đem bình ra cho tôi xem thử và làm cho nó tuôn ra đồ vật.
Người nghèo kia liền mang bình ra và ước nguyện, chiếc bình tuôn ra nhiều đồ vật. Vì quá phấn khích, nên anh ta đứng lên chiếc bình nhảy múa. Ngay lúc ây chiếc bình vỡ tan và mọi thứ đều biến mất.
Cũng thế, nếu người giữ giới nghiêm mật thì tất cả sự an lạc vi diệu đều thành tựu. Nếu buông lung phá giới thì cũng như người làm vỡ bình, mất hết lợi lạc”.
87.5.4. Được và không
Luận Tát-bà-đa ghi: “Người nào muốn thụ trì bát quan trai giới, nhưng lại tham đắm nữ sắc, ưa đàn ca hát xướng, tham ăn uống, vui chơi, cố tình buông lung như thế rồi mới thụ giới, thì bất luận là trước ngọ hay sau ngọ đều không đắc giới. Còn người vốn chưa phát tâm thụ giới, cũng buông dật như trên, nhưng sau đó nhờ gặp thiện tri thức mà phát tâm thụ giới, thì bất luận là trước ngọ hay sau ngọ đều đắc giới”.
Kinh Thiện Sinh ghi: “Những người giàu sang thường sai người làm ác, nếu muốn thụ bát quan trai, trước hết phải bảo thuộc hạ không được làm những việc ác vào những ngày trai. Giữ được thanh tịnh như vậy, người này mới đắc giới. Nếu không ngăn cản làm ác thì không đắc giới. Vì đó thuộc về ác luật nghi”.
Luận Câu-xá ghi: “Nếu trước đó đã khởi niệm thụ giới vào ngày trai, tuy ăn rồi vẫn được thụ”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Nếu thụ Bát quan trai giới, phải tự nói một ngày một đêm giữ giới không sát sinh v.v... bặt dứt ngôn luận, chớ để lẫn lộn với giới pháp thụ một đời”.
Luận Thành Thật ghi: “Bát quan trai giới này phải thụ toàn bộ, hay có thể thụ từng phần?
Đáp: Tùy theo khả năng của mình mà có thể thụ nhiều hay ít.
Lại có người nói giới này chỉ nhất định thụ trong một ngày một đêm. Việc này thế nào?
Đáp: Tùy ý, muốn thụ thời gian lâu mau đều được. Hoặc thụ một ngày một đêm, hoặc nửa ngày nửa đêm, hoặc nửa tháng, một tháng v.v. ỉ:
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Nếu thụ bát quan trai, trước tiên phải sám hối tội lỗi đã tạo từ trước, rồi mới thụ giới” (Phương pháp sám hối như chương Sám hối ở trước đã nói, nhưng lược bỏ phần hỏi về già nạn, như đã nói trong chương Ngũ giới trước).
87.5.5. Nghi thức thụ giới
Theo luận Trí độ, nghi thức thụ giới như sau: “Giới tử thưa:
- Con tên là... trọn một ngày một đêm nguyện qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng, làm tịnh hạnh ưu-bà-tắc (hoặc ưu-bà-di). Con tên là... qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi, nguyện một ngày một đêm làm tịnh hạnh ưu-bà-tắc rồi (nói ba lần).
Đã thụ giới rồi, kế đến là thuyết giới tướng.
Giới tử lại phát nguyện:
- Chư Phật trọn đời không sát sinh. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không sát sinh.
- Chư Phật trọn đời không trộm cắp. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không trộm cắp.

Phần 8

- Chư Phật trọn đời không dâm dục. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không dâm dục.
- Chư Phật trọn đời không vọng ngữ. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không vọng ngữ.
- Chư Phật trọn đời không uống rượu. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không uống rượu.
- Chư Phật trọn đời không ngồi nằm giường cao rộng. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không ngồi nằm giường cao rộng.
- Chư Phật trọn đời không đeo vòng hoa thơm, không thoa dầu thơm, không mặc áo xông hương. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không đeo vòng hoa thơm, không thoa dầu thơm, không mặc áo xông hương.
- Chư Phật trọn đời không đàn ca múa hát, cũng không đi xem nghe. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không đàn ca múa hát, cũng không đi xem nghe.
- Chư Phật trọn đời không ăn quá ngọ. Đệ tử tên là... cũng nguyện một ngày một đêm không ăn quá ngọ.
Nay đệ tử thụ trì bát quan trai giới, học theo phép bố-tát của chư Phật, nguyện thụ trì để được phúc báo không đọa vào ba đường ác, tám nạn. Đệ tử không mong cầu niêm vui của Phạm thiên vương hay Chuyển luân vương, chỉ cầu mọi phiền não đều được tiêu trừ, chứng Tát-vân-nhã, thành tựu Phật đạo”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật dạy chúng tì-kheo:
- Nay là ngày trai giới, các thầy hãy bảo các ưu-bà-tắc tắm gội sạch sẽ, mặc áo sạch, đến bố-tát.
Luận Tát-bà-đa có ghi: “Nếu không có người chứng minh truyền thụ thì chỉ nhất tâm đọc: ‘Con nay xin qui y Tam bảo, thụ trì Bát quan trai giới’. Như vậy cũng đắc giới.
Luận Thành thật ghi: “Có người nói, giới này cần phải được người khác truyền thụ. Việc này thế nào?”
Đáp: Cũng không nhất định. Nếu không có người truyền thụ, chỉ cần chí tâm dù chỉ nói: “Con nay xin thụ trì bát quan trai”, cũng được đắc giới (Đối với người nữ, khi thụ lãnh, không được đắp y lộ vai, những nghi thức khác cũng đồng như trên.)
87.5.6. Giới tướng
Sau khi thụ giới, cần phải biết giới tướng để giữ gìn. Nếu không biết giới tướng khi gặp duyên sẽ phạm lỗi. Giới tướng của năm giới trước thì đồng như trong phần năm giới đã trình bày. Ba giới sau, nay xin trình bày rõ.
Không dùng những vật dụng trang nghiêm, luận Câu-xá ghi: “Không dùng những vật dụng trang nghiêm mới. Vì sao? Nếu sử dụng những vật dụng trang nghiêm thường ngày thì tâm đắm trước không tán loạn quá độ.
Nếu cho người nữ đã thụ giới thì không cho ở chung với trẻ còn bú sữa, vì sợ phá giới. Không cho phép ngồi hoặc nằm giường gỗ, giường ngà cao quá tám thước, chỉ được trải chiếu nằm trên đất. Không được uống nước phi thời bằng chén gỗ màu trắng, vì sợ uống những chất béo còn dính trong chén sẽ phá giới. Như vậy, nếu không biết, vô ý làm những điều cấm như vậy sẽ không hợp Thánh giáo, lại còn phạm tội vô tri. Tuy ở chung với cha và anh em, nhưng không phạm giới thì cũng không gọi là phá giới”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Nếu đã thụ giới mà còn đánh đập chúng sinh, hoặc nói ‘đợi đến sáng mai sẽ đánh’, tuy không phải là phá giới, nhưng giới không thanh tịnh”.
Kinh A-hàm ghi: “Về giường cao rộng, nếu tính từ thanh giường xuống đất một thước sáu thì không cao, ngang bốn thước thì không gọi là rộng, dài tám thước không gọi là lớn, quá kích thước này mới gọi là giường cao rộng”.
Có tám loại giường mà người thụ bát quan trai không được sử dụng: Giường vàng, giường bạc, giường ngà, giường sừng, giường của Phật, giường của bích-chi phật, giường của các vị a-la-hán, giường của các cao tăng, sư trưởng, (giường của cha mẹ thì không cấm). Trong đó, bốn loại trước là qui định theo vật liệu, nếu giường bằng vật liệu quí thì không được ngồi. Bốn loại sau được qui định theo người sử dụng, nghĩa là dù chỗ ngủ nghỉ được trải trên đất, nhưng nếu nghi đó là nơi của các vị tôn quí thì cũng không được ngồi nằm.
87.5.7. Phân biệt ngôi thứ
Luận Tát-bà-đa ghi:
Hỏi: Ngoài những giới của bảy chúng, có giới Biệt giải thoát không?
Đáp: Có! Đó là giới bát quan trai. Theo nghĩa này thì người thụ giới Bát quan trai không thuộc bảy chúng. Nếu xét về vị trí thì bát quan trai giới phải đứng trên năm giới ưu-bà-tắc, vì giới nhiều hơn. Nên luận Trí độ ví bát quan trai giới như một vị tướng dũng mãnh.
Luận Thành thật ghi: “Bát giới ưu-bà-tắc. Trung Hoa dịch là Thiện túc nam, vì người này có thiện tâm một ngày đêm không phá giới. Trong các kinh, ưu-bà-tắc cũng được gọi là thanh tín sĩ, cận Phật nam; ưu-bà-di được gọi là thanh tín nữ, cận Phật nữ. ở Tây Vực, những người thụ trì năm giới và Bát quan trai giới mới được gọi là ưu-bà-tắc, ưu-bà-di; cách ăn mặc, nơi ở, oai nghi đều có phép tắc hợp qui định, chỉ sau người xuất gia, nhưng trên những người không có giới. Còn ở Trung Hoa lại khác, không có phép tắc, những kẻ thế tục hành nghiệp mê mờ, chạy theo ô nhiêm tạp loạn, cũng được gọi là ưu-bà-tắc, là hiền giả. Thật không có gì sai lầm hơn việc này.
Kinh Thị pháp phi pháp ghi; “Phật dạy chúng tì-kheo:
- Có người được gọi là hiền giả, cũng có người không được gọi là hiền giả. Những hạng người nào chẳng phải là hiền giả? Nếu có người thuộc dòng cao quí muốn học đạo, lại sinh tâm xem thường bạn đồng học thuộc dòng thấp kém, thì người này chẳng phải là hiền giả. Được gọi là hiền giả, đó là người không xem trọng việc học đạo phải thuộc dòng cao quí, mà cốt yếu là đoạn trừ được tham sân si. Hoặc người chẳng thuộc dòng tộc cao quí, nhưng biết phương tiện thụ pháp, nói và làm đúng như pháp, không tự khen mình, cũng không chê người, thì cũng gọi là hiên giả”.
Luận Thập trụ tì-bà-sa ghi: “Có người hỏi:
- Pháp thụ trai giới như thế nào?
Đáp:
- Người thụ trai giới nên đọc:
* Các vị thánh nhân từ bỏ sát sinh, buông bỏ đao gậy, không sân giận, có tâm hổ thẹn, thương xót chúng sinh. Nay đệ tử học theo các thánh nhân, một ngày một đêm từ bỏ sát sinh, buông bỏ đao gậy, không sân hận, có tâm hổ thẹn, thương xót chúng sinh,
* Các vị thánh nhân xa lìa trộm cắp, tu hạnh thanh tịnh, thụ nhận vừa đủ. Nay đệ tử học theo các thánh nhân, một ngày một đêm xa lìa trộm cắp, sống đời thanh tịnh
* Các vị thánh nhân đoạn trừ dâm dục, xa lìa niềm vui thế gian. Nay đệ tử học theo các thánh nhân một ngày một đêm đoạn trừ dâm dục, xa lìa niềm vui thế gian, tịnh tu Phạm hạnh.
* Các vị thánh nhân không nói dối, chỉ nói lời chân thật, nói lời ngay thẳng. Nay đệ tử học theo các thánh nhân, một ngày một đêm không nói dối, chỉ nói lời chân thật, nói lời ngay thẳng.
* Các vị thánh nhân xa lìà rượu, rượu là nhân gây buông lung. Nay đệ tử học theo các thánh nhân, một ngày một đêm không uống rượu.
* Các vị thánh nhân không ca múa, khảy đàn, thoa hương, đeo vòng hoa chuỗi báu. Nay đệ tử học theo như các thánh nhân, một ngày một đêm không ca múa, khảy đàn, thoa hương hoa, đeo vòng hoa, chuỗi báu.
* Các vị thánh nhân không ngồi nằm giường cao rộng, chỉ nằm chiếu cỏ giường hẹp. Nay đệ tử học theo các thánh nhân, một ngày một đêm không ngồi nằm giường cao rộng, chỉ nằm chiếu cỏ, giường hẹp.
* Các vị thánh nhân không ăn quá ngọ, không ăn phi thời. Nay đệ tử học theo các thánh nhân, một ngày một đêm không ăn quá ngọ, không ăn phi thời”.
Như kệ tụng:
Sát, đạo, dâm, vọng ngữ
Uống rượu và thoa hương,
Chuỗi báu cùng ca múa.
Giường cao, ăn quá ngọ,
Thánh nhân đã từ bỏ
Ta nay cũng như thế.
Nhờ vào phúc báo này
Thảy đều thành Phật quả.
Kinh Phật thuyết trai ghi: “Đức Phật đang ở nhà một vị thừa tướng, phía đông thành Xá-vệ. Bà Duy-da, mẹ của thừa tướng thức dậy rất sớm, tắm gội mặc áo lụa năm màu, cùng với con trai và con dâu đến đỉnh lễ chân Thế Tôn rồi đứng qua một bên. Đức Phật hỏi bà Duy-da:
- Sao bà tắm gội sớm vậy?
Bà đáp:
- Đệ tử cùng các con muốn được thụ trai giới!
Đức Phật bảo:
- Trai giới có ba hạng. Bà muốn thụ loại trai giới nào?
Bà Duy-na quì thưa:
- Bạch Thế Tôn! Ba hạng trai giới là gì? Đệ tử xin được nghe.
Phật dạy: Đó là:
1. Mục ngưu trai: Như người chăn bò, luôn mong cầu có nước và cỏ để bò ăn uống. Tối về, người này phải suy nghĩ xem mảnh ruộng nào có nhiều cỏ tốt để sáng mai dẫn bò đến. Cũng vậy, người nam người nữ đã thụ giới rồi mà lòng còn vương vấn lợi dưởng thế gian, luôn nghĩ đến ăn uống ngon để bồi bồ tấm thân thì cũng như tâm của người chăn bò kia. Thụ giới như vậy không được phúc lớn, cũng chẳng được trí tuệ sáng tỏ.
2. Ni-kiền trai: Đó là những kẻ vào ngày rằm mỗi tháng, phủ phục trên đất thụ trai giới, lễ bái chư thần trong vòng mười do-tuần và thưa: ‘Hôm nay là ngày trai, con không dám làm ác, xem vợ con và nô tì chẳng phải là của mình’. Cứ làm như vậy cho đến sáng. Hạng người như thế gọi là ngoại đạo ni-kiền, không được phúc lớn, chẳng có trí tuệ sáng suốt.
3. Phật pháp trai: Đó là đệ tử Phật thụ trì bát quan trai giới sáu ngày mỗi tháng”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục