Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 46 - CHƯƠNG SUY NGHĨ THẬN TRỌNG

21/11/2015

QUYỂN 46 Quyển này gồm hai chương: Suy nghĩ thận trọng, Kiệm ước. 44. CHƯƠNG SUY NGHĨ THẬN TRỌNG 44.1. LỜI DẪN Suy nghĩ thận trọng để ngăn ngừa lỗi lầm là đạo lý tránh tai họa; im lặng không tranh cãi là nguồn gốc để xa...

PUCL QUYỂN 46 - CHƯƠNG SUY NGHĨ THẬN TRỌNG
Phần 1

QUYỂN 46
Quyển này gồm hai chương: Suy nghĩ thận trọng, Kiệm ước.
44. CHƯƠNG SUY NGHĨ THẬN TRỌNG

44.1. LỜI DẪN
Suy nghĩ thận trọng để ngăn ngừa lỗi lầm là đạo lý tránh tai họa; im lặng không tranh cãi là nguồn gốc để xa lìa tội ác. Răn trước, dè sau là nguyên tắc sống của người quân tử. Kính già quí trẻ là nền tảng trong việc nuôi dưỡng chúng sinh. Mong tỏ ngộ nhân duyên sinh khởi, hiểu rõ sinh diệt vô thường, biết trọn khổ, không, vô ngã, thấu môn bình đẳng nhiệm mầu. Từ đó giữ lấy diệu lí, phế bỏ sự tướng, ngăn trừ tai họa, nhận lấy phúc báo. Đó là linh dược điều hòa tinh thần, là con đường thuận muôn loại.
44.2. THẬN TRỌNG VỚI VẬT DỤNG
Kinh Tu hành đạo địa ghi: “Có vị quốc vương chọn được một người thông minh tài trí bậc nhất trong nước làm phụ tướng. Một hôm vua muôn thử tài, bèn giả khép vị phụ tướng vào tội nặng xem thử vị ấy đối phó the nào. Thế là vua sai người đem đến một bát dầu đầy, bảo vị tân phụ tướng bưng bát dầu đi từ cửa bắc đến cửa nam, vào vườn Điều Hí, cách thành hai mươi dặm. Nếu làm rơi một giọt dầu, sẽ bị chém đầu, không cần biện bạch. Quần thần tuân theo lời vua đem đến một bát dầu đầy trao cho người ấy. Người ấy hai tay bưng bát dầu mà lòng vô cùng ưu sầu, lo lắng. Bấy giờ dẫu có xe ngựa, người đến xem chật cả đường sá, hoặc thấy chuyện thị phi, vị tân phụ tướng vẫn không lay chuyển; dẫu vợ con, thân tộc đến bức ép, cũng vẫn chuyên tâm, không nhìn; dẫu người cả nước đến xem, làm náo loạn, vị ấy vẫn nhất tâm, không hề đoái hoài đến; dẫu có người nữ đẹp bậc nhất trong nước đến ca múa thúc giục, ai thấy cùng vui thích, mà vị ấy vẫn chú tâm bưng bát, ý chí chẳng xao động, cũng chẳng khởi một niệm muốn nhìn xem, chẳng thấy chẳng nghe. Bấy giờ có bài tụng:
Uyển chuyển mà khoan thai
Điệu múa quá tuyệt vời
Tất cả đều ham thích
Như hậu phi Ma vương
Làm động bậc li dục
Huống gì là phàm phu
Đến đứng bên người ấy
Bưng bát, lòng chẳng lay.
Bây giờ dẫu có Voi đuổi ngựa truy, trong thành lửa cháy thiêu đốt bách tính, mọi người kêu la, bảo tránh nạn lửa, chớ rơi hầm sâu, quan binh đều đến đồng loạt ứng cứu, người ấy vẫn nhất tâm bưng bát dầu, không để rơi một giọt. Dầu có sấm sét, động đất, gió bão nỗi lên khiến cây cối gãy đổ, cát đá bay mịt mù, chim chóc rơi loạn, thú chạy lạc bầy, ngượi vật kêu la, thì vị ấy vẫn chỉ để tâm nơi bát dầu, không thấy không nghe. Vị tân phụ tướng đã bưng bát dầu đén vườn Điều Hí mà không làm rơi một giọt. Các quan tâu trình đầy đủ, nhà vua khen: ‘Khó có ai như người này; đây là bậc hùng trong loài người, không quan tâm đến mọi việc!’. Thế là vua vô cùng vui mừng, lập người này làm phụ tướng. Hành giả tu đạo, chế tâm cũng như thế. Dù có dâm nộ si đến nhiễu loạn các căn, nhưng bên trong thì quán xét, bên ngoài thì ngăn chặn, nhiếp tâm không tán loạn; tam-muội định tâm cũng như vậy.
Có bài kệ ghi:
Như người bưng bát dầu
Bất động, không làm rơi
Diệu tuệ ý như biển
Nhất tâm bưng bát dầu
Nếu ai muốn học đạo
Nên nhiếp tâm như vậy
Lòng luôn cầu đức sáng
Trừ sạch các vết nhơ
Bao nhiêu loại sắc dục
Đều khởi từ nộ si
Giữ chí không buông lung
Vắng lặng tự chế phục
Như thân đang có bệnh
Phải dùng thuốc chữa trị
Bệnh tâm cũng như vậy
Bẩn ý chỉ diệt trừ.
Phẩm Tế long trong kinh Đại tập ghi: “Lúc bấy giờ, trong chúng hội, có một con rồng mù tên là Phả-la-cơ-lê-xa lớn tiếng khóc than rằng:
- Bạch Đại Thánh Thế Tồn, xin Ngài cứu con! Xin Ngài cứu con! Nay thân con chịu nhiều đau khổ, ngày đêm thường bị các loài côn trùng cắn rỉa, ăn thịt, sống trong nước nóng, không giây phút nào an vui.
Đức Phật bảo Lê-xa:
- Vào thời quá khứ, ngươi là một tì-kheo ở trong Phật pháp, nhưng lại phạm giới cấm, trọng lòng thì dối trá, ngoài mặt thì hiện tướng lành, tham quyến thuộc đông, muốn đệ tử nhiều, danh tiếng vang khắp, ai ai cũng biết đến, còn tự xưng: Ta là hòa thượng đã đắc quả A-la-hán’. Do đó, ngươi được thí chủ cúng dường rất nhiều, nhưng chỉ để riêng mình thụ dụng. Thấy người giữ giới thì ngươi lại nói xấu, khiến họ buồn khổ và thề rằng: ‘Đời đời dù sinh ra nơi nào, ta cũng ăn thịt ông’. Đó là thân đời trước của ngươi. Do nghiệp ác này, sau khi chết, ngươi sinh trong loài rồng. Những người kia vì lời thề, nên hôm nay lại ăn thịt ngươi; do ngươi tạo nghiệp ác nên phải chịu quả báo mù lòa. Lại nữa, trong vô lượng kiếp quá khứ lúc ở nơi địa ngục nước đồng sôi, ngươi cũng thường bị các loài côn trùng cắn rỉa, ăn thịt.
Nghe câu chuyện này, rồng buồn khổ khóc lớn bạch Phật:
- Chúng con ngày nay đều xin chí thành sám hối, mong mau thoát khỏi nỗi khổ này! Khi ấy, hai mươi sáu ức con rồng đói kia đều nhớ lại thân quá khứ của mình, khóc lóc thảm thiết, nhớ lại đời trước tuy đã xuất gia trong Phật pháp, nhưng do tạo các nghiệp ác, nên trải qua vô số thân bị đọa vào ba đường ác; do nghiệp báo này chưa hết, nên lại sinh vào loài rồng, chịu khổ cùng cực, như loài rồng xanh này vậy.
Bấy giờ, Đức Phật bảo loài rồng:
- Các ngươi hãy lấy nước rửa chân Như Lai thì tội báo của các ngươi dần dần được tiêu trừ.
Ngay đó, tất cả rồng lấy tay vốc nước, thì nước đều biến thành lửa, lại biến thành tảng đá lớn, rồi nổi lửa dữ đỏ rực khắp lòng bàn tay, dập tắt thì lại cháỵ, bảy lần như thế. Thấy vậy, tất cả rồng đều kinh sợ, sầu não, nước mắt đầm đìa. Vâng lời Phật dạy, chúng phát nguyện lớn, lửa dữ đều bị dập tắt. Đến lần thứ tám, chúng lấy tay vốc nước rửa chân Như Lai, chí thành sám hối. Đức Phật thụ ký: ‘Đến thời Phật Di-lặc, các ngươi sẽ được làm người, gặp Phật xuất gia, tinh tiến trì giới, đắc quả A-la-hán!’.
Bấy giờ, các rồng đều chứng được túc mạng tâm, tự nhớ lại nghiệp đã tạo trong đời quá khứ, từng Quyển 46
ở trong Phật pháp, hoặc làm cư sĩ thân cận với chúng tăng, hoặc tới lui nghe pháp. Khi có đàn việt cúng dường các món ăn, thức uống, hoa quả, thì cùng với các tì-kheo phân chia ăn uống.
Có rồng nói:
- Tôi thường dùng thức ăn, thức uống và hoa quả của tứ phương tăng.
Có rồng nói:
- Lúc tôi đến chùa cúng dường chúng tăng, hoặc lễ bái cũng đã ăn uống như thế.
Các rồng khác lần lượt nói:
- Tôi từng làm cư sĩ ở trong pháp hội của Phật Tì-bà-thi, cho đến từng làm cư sĩ trong pháp hội của Phật Thích-ca Mâu-ni, hoặc do quen biết, hoặc nghe pháp mà qua lại chốn chùa chiền. Khi những người có lòng tin đem thứ hoa quả, đồ ăn, thức uống cúng dường chúng tăng. Tì-kheo nhận rồi, trở lại cho tôi, tôi liền thụ dụng. Vì
Phần 2

nghiệp duyên ấy, nên tôi bị đọa vào địa ngục trải qua vô số kiếp, hoặc bị thiêu đốt trong lửa dữ, hoặc uống nước đồng sôi, hoặc nuốt hòn sắt nóng... Ra khỏi địa ngục, tôi đọa làm súc sinh; bỏ thân súc sinh, lại sinh vào loài ngạ quỷ, chịu nhiều thống khổ như thế. Nhưng vì nghiệp ác chưa hết, nên tôi phải sinh trong loài rồng này, thường bị khổ đau.
Đức Phật dạy:
- Những nghiệp ác này không khác gì trộm vật của Phật... Tội này bằng nửa tội nghịch. Nay ngươi nên suốt đời quy y Tam bảo, dốc lòng tu thiện. Nhờ công đức này, trong Hiền kiếp, các ngươi sẽ găp vị Phật cuối cùng hiệu là Lâu-chí. Vào thời Đức Phật ấy, tội lỗi của các ngươi sẽ được dứt trừ.
Sau khi nghe Phật dạy, tất cả rồng đều chí thành, nguyện suốt đời thụ trì Tam quy.
Bấy giờ, trong số ấy, có vợ của con rồng mù, miệng bị lở loét, đầy dẫy giòi bọ, hôi thối giống như phân tiểu, những thứ dơ uế tiết ra từ căn môn của người nữ, thật là khó gần gũi. Khi nó ăn uống, thì máu mủ chảy ra, toàn thân thường bị ruồi muỗi, các loài trùng độc cắn rỉa, ăn thịt. Thân thể hôi thối, chẳng ai dám nhìn.
Lúc ấy, với lòng đại bi, Đức Phật nhìn thấy vợ của rồng mù khốn khổ như thế, bèn hỏi:
- Vì sao ngươi phải mang lấy thân xấu xa như vậy, trong quá khứ đã từng làm nghiệp gì?
Rồng vợ đáp:
- Bạch đức Thế Tôn, thân của con đây phải chịu các thứ khổ bức bách, không giây phút nào dừng, dẫu muốn nói cũng không thể nói hết. Con nhớ lại, vào thời quá khứ cách đây ba mươi sáu ức kiếp, trong trăm nghìn năm, con sinh vào loài rồng chịu khổ như thế, suốt cả ngày đêm. Lại trong chín mươi mốt kiếp xa xưa, vào thời Phật Tì-bà-thi, con từng làm tì-kheo ni trong Phật pháp, thường nghĩ đến việc dâm dục hơn cả người say. Tuy đã xuất gia, nhưng con không thực hành đúng pháp, trong chốn già-lam trái phạm giới luật, nên thường bị thiêu nướng trong ba đường ác.
Trình bày xong, rồng bạch Phật:
- Xin Ngài cứu con!
Nghe xong, Đức Phật liền thuyết thật ngữ rồi lấy một ít nước đổ vào miệng rồng. Khi ấy lửa và giòi bọ, máu mủ đều tan biến. Miệng được sạch sẽ, rồng lại thưa:
- Đại Thánh Như Lai! Con nhớ thuở quá khứ, thời Phật Ca-diếp, con từng làm người cư sĩ. Một hôm, con đang cày ruộng, có vị tì-kheo đến xin con năm mươi đồng tiền. Khi ấy, con trả lời:
- Đợi khi lúa chín, tôi sẽ cúng cho ngài.
Vị tì-kheo nói:
- Nếu không thể cho năm mươi đồng thì cho xin mười đồng cũng được.
Lúc đó, con tức giận, nói với vị tì-kheo:
- Dù chỉ mười tiền, tôi cũng không cho.
Nghe con nói thế, vị tì-kheo buồn khổ, ra về.
Lại một lần khác, con vào vườn cây của chùa
trộm lấy mười quả xoài là vật của hiện tiền tăng, rồi ăn một mình. Do nghiệp ác này, nên con chịu khổ trong chốn địa ngục. Nghiệp ác ấy chưa hết, con phải sinh làm rồng đói ở nơi đầm vắng, thường bị các loài côn trùng cắn rỉa, ăn thịt, máu mủ chảy khắp, đói khát khổ não. Còn vị tì-kheo kia do nghiệp ác của tâm sân giận, nên chết đọa làm con rồng độc nhỏ sống trong nách con để hút máu, hơi nóng xông khắp thân, không thể chịu được. Thế nên, thân con nóng bức, máu mủ đầm đìa.
Rồng lại bạch Phật:
- Xin Ngài từ bi thương xót cứu con, để con mau được thoát khỏi rồng độc oan gia này!
Bấy gỉờ, Đức Phật dùng tay vốc nước, nói lời thành thật:
- Thuở xưa, gặp thời đói khát, Ta phát nguyện làm một con vật có thân to lớn, dài rộng vô lượng, rồi dùng năng lực thần thông ở giữa hư không xướng lên rằng: ‘Trong đầm vắng kia, có một con vật to lớn, tên là Bất Sân, các người nên đến lấy thịt của nó vê làm thức ăn cho khỏi đói’. Loài người và phi nhân v.v... nghe lời này, tất cả đều tranh nhau đến ăn thịt nó.
Nghe Phật nói lời này, con rồng nhỏ ở dưới nách rồng kia liền chui ra, cả hai cùng bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Đến khi nào chúng con mới hết kiếp rồng, dứt sạch tội báo?
Đức Phật bảo:
- Nghiệp này rất nặng, sẽ bị đọa địa ngục ngũ vô gián. Vì sao? Nếu có vật của tứ phương tăng, hoặc vật của hiện tiền tăng, vật do đàn việt có niềm tin sâu dày dâng cúng, như hoa quả, vườn cây, đồ ăn, thức uống, giường chiếu, tọa cụ, thuốc thang... mà mình tự tiện tiêu xài riêng, hoặc mang ra ngoài cho cư sĩ, bạn bè quen biết, tội này rất nặng, phải chịu quả báo nơi địa ngục A-tỳ. Vì thế, các ngươi nên thụ trì Tam quy. Sau khi quy y Tam bảo, các ngươi mới có thể sống trong dòng nước mát. Ba lần xưng, ba lần thụ như thế, các ngươi sẽ được an ổn sống trong dòng nước ấy”.
Bấy giờ, Đức Phật liền nói kệ cho các con rồng nghe:
Thà dùng dao bén tự xẻ thân,
Phân ra từng mảnh thịt xương gân
Chứ vật của người dâng tăng chúng
Cư sĩ thế tục chẳng có phần.
Thà nuốt sắt nóng cháy phừng phừng,
Khiến cho miệng lưỡi lửa đỏ hừng
Chứ thức uống ăn phần tăng chúng,
Cư sĩ không nên lén tự dùng.
***
Sống tại gia đình, đời cư sĩ,
Thà bốc lửa lớn như Tu-di,
Bỏ vào trong miệng mà nuốt lấy,
Chứ không dùng vật của tăng ni.
***
Thà dùng dao bén xẻ thân mình,
Tự ăn da thịt cũng chẳng kinh,
Chứ không dám là một cư sĩ,
Mà nhận đồ dùng của chúng tăng.
***
Thà tự gieo mình vào lửa hồng,
Đang cháy phừng phực khắp căn phòng,
Chứ không dám là một cư sĩ
Mà lại ngồi nằm giường chúng tăng.
***
Thà dùng chày sắt nung lừa đỏ,
Đưa tay cầm lấy chảy thành tro,
Chứ không dàm là một cư sĩ,
Mà lại lén dùng vật của tăng.
***
Thà dùng chày nặng với đao tinh,
Tự lóc, giã thịt của thân mình
Chứ không dám khởi lòng sân hận
Với bậc xuất gia cầu Vô sinh.
***

Phần 3

Thà tự tay mình móc lấy mắt,
Vứt bỏ xuống đất hoặc ném quăng,
Chứ không dám dùng tâm sân hận
Nhìn người tu tập các pháp lành
***
Thà tấm sắt nóng quấn lấy thân,
Cứ thế đi đứng và ngồi nằm
Chớ không sân hận, lòng đố kị,
Mà khoác tịnh y của chúng tăng.
***
Thà uống nước tro hay muối mặn,
Nước sôi sùng sục phỏng miệng răng,
Chứ không ôm lòng tham, sân, ác,
Uống thuốc đàn việt cúng chúng tăng.
Sau khi Đức Phật nói bài kệ này, bầy rồng một vạn bốn nghìn con đều thụ trì tam quy, tất cả nghiệp báo khổ đau trong quá khứ, hiện tại đều được tiêu trừ, tin sâu Tam bảo, không bao giờ lui sụt. Lại có các bầy rồng khác gồm tám mươi ức con cũng phát tâm quy y Tam bảo”.
Kinh Đại tập ghi: “Tất cả những vật dụng cần thiết của một tì-kheo đều do đàn việt tín tâm cúng dường. Vậy mà người này hoặc một mình, hoặc cho người khác, hoặc cùng mọi người lén cất giấu, dùng riêng ở chỗ khuất. Vì những việc làm như thế, nên vị này đọa vào ba đường ác, mãi chịu khổ đau.
Lại có chúng sinh nghèo cùng hèn hạ, không được an ổn, cho nên xuất gia mong được giàu có, an ổn, sung sướng. Thế nhưng, sau khi xuất gia, vị ấy biếng nhác, không chịu đọc tụng kinh điển, không siêng năng tu tập thiền định, trí tuệ, chỉ thích biết việc của tăng. chúng cúng dường đầy đủ. Bấy giờ, vị ấy làm tri sự được nhiều lợi dưỡng, rồi hoặc lấy dùng riêng, hoặc lén cho những người thế tục thân quen. Do nghiệp duyên này, vị ấy ở mãi trong đường ác, ra rồi lại vào. Kẻ ngu si như thế không sợ quả báo đời sau nặng nhẹ ra sao. Thế nên, nay Ta răn nhắc các đệ tử sa-môn: ‘Hãy nhớ nghĩ đến pháp mà hành trì, không được tự xưng: ‘Tôi là sa-môn, tu hành đúng chính pháp’. Nhờ nương tựa vào chúng tăng, nên các ông được nhận các vật do đàn việt cúng dường, như bánh, rau, hoa, quả, nhưng đó là vật thực của chúng tăng, không được tự tiện lấy cho người thế tục, cũng không được nói: ‘Đó là vật của tôi’, rồi ăn biệt chúng”.
Lại nữa, cũng không được cất chứa vật của chúng tăng để sinh lợi, hoặc mua bán đổi chác... bảo là làm lợi ích, để rồi phải bị người đời chê bai. Lại cũng không được mua rẻ bán đắt, để tranh lợi với đời. Lại cũng không được vì việc ăn uống hay việc tăng mà làm cho chúng sinh bị rơi vào ba đường ác, phải nên khuyên bảo họ an trú trong pháp lành, khiến chúng tì-kheo có niềm tin vững chắc vào Tam bảo, đồng thời giúp đỡ tất cả chúng sinh cho đến cha mẹ được an ổn, cho đến chứng ba môn giải thoát”.
Kinh Thập luân ghi: “Nếu người nào không chia vật dụng cần thiết của tăng bốn phương cho
Lại có tì-kheo ngày đêm siêng năng tu tập pháp lành, đọc tụng kinh điển, tọa thiền, tu tuệ không phút giây biếng trễ. Nhờ công đức này, vị ấy được bốn những người trì giới, phá giới, thì sau khi mạng chung, sẽ đọa vào địa ngục A-tì”.
Phẩm Tế long, kinh Đại tập lại ghi: “Long vương Bà-già-la bạch Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Trong chúng rồng đây, có rồng thụ quả báo an vui như chư thiên, có rồng thu báo an vui như loài người, hoặc có rồng thụ báo như ngạ quỉ, hoặc có rồng thụ báo như súc sinh, có loại thụ báo đau khổ như chúng sinh địa ngục.
Bấy giờ long vương Thanh Liên Hoa Diện con của đại long vương Bà-già-la bạch:
- Bạch Thế Tôn! Ngày xưa con tạo nghiệp ác gì mà nay sinh vào loài rồng, thân hình cực lớn, thụ dụng tất cả các vật như lửa đốt, luôn lộ thân thể không có áo quần. Như phụ vương của con hưởng thụ dục lạc thật tối thắng, giống quả báo của Chuyển luân vương?
- Này Hoa Diện! Vào thời quá khứ, cách nay ba mươi mốt kiếp có Đức Phật Thi-khí xuất hiện ở đời. Vua Bồi-đa-phú-sa suốt trong ba tháng lập pháp hội cúng dường y phục, thức ăn, thức uống, thuốc men... lên Đức Phật Thi-khí, vô lượng trăm nghìn bậc A-la-hán và các Đại Bồ-tát. Sau đó vua chí tâm nghe pháp rồi phát tâm bồ-đề, xây dựng chùa viện, dâng cúng tất cả các vật cần dùng. Khi ấy thái tử của vua tên là Bồi-đa-la-thụ-đế cũng được gặp Phật, nghe pháp, nên tâm vô cùng sợ hãi sinh tử lưu chuyển. Thế là thái tử cầu xin vua cha cho phép xuất gia. Vua cha đáp: ‘Tùy ý con!’.
Sau khi xuất gia, thái tử tâu vua: ‘Con muốn trụ nơi ngôi chùa của phụ vương xây dựng’. Vua cũng đáp: ‘Tùy ý thái tử!’.
Bấy giờ Đức Phật Thi-khí cùng các đệ tử tăng đang an trú trong ngôi chùa ấy, hằng ngày thụ dụng thức ăn uống của vua dâng cúng. Thái tử ganh ghét, giận dữ và luôn mắng chửi họ. Chúng tăng thấy vậy đều bỏ chùa ra đi. Thấy tăng bỏ đi, thái tử càng vui mừng suy nghĩ: ‘Họ đi thì càng tốt, từ nay ta được an ổn!’. Thái tử tự do thụ dụng các vật y phục, thức ăn, thức uống của chùa, lại không cho chư tăng đến trú ngụ. Do nghiệp ác này, sau khi mạng chung thái tử tì-kheo này rơi vào địa ngục lớn, trải qua vô lượng nghìn trăm vạn na-do-tha năm bị lửa đốt thân; thoát khỏi địa ngục, thì sinh vào loài ngạ quỉ chịu khổ vô lượng nghìn trăm vạn năm; vừa ra khỏi ngạ quỉ lại trở vào địa ngục, ra khỏi địa ngục lại sinh vào ngạ quỉ. Cứ như thế trải qua ba mươi mốt kiếp ở trong sinh tử lưu chuyển chịu những nỗi thống khộ như vậy.
Này Hoa Diện! Bồi-đa-la-thụ-đế chính là ngươi hôm nay! Bởi ác nghiệp thời quá khứ, cho nên phải chịu sinh vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nối tiếp thụ khổ. Trải qua ba mươi mốt đại kiếp chịu đủ các khổ, không phút giây gián đoạn. Do nghiệp còn sót lại, nên ngày nay sinh vào loài rồng chịu ác báo này.
Long vương Hoa Diện nghe Đức Phật nói qua khứ của mình như thế, liền lớn tiếng gào khóc, toàn thân ngã nhào, tứ chi sát đất, đỉnh lễ Đức Phật, rồi thưa:
- Nay con chí thành sám hối trước Phật, không dám che giấu tội lỗi; chí thành qui y Phật, Pháp, Tăng, suốt đời làm một ưu-bà-tắc!
- Quí thay, quí thay! Ngươi qui y Phật như thế, sẽ trừ hết tội nghiệp ấy. Sau khi mạng chung, đến thời Phật Di-lặc, ngươi sẽ được thân người, xuất gia tu đạo và chứng quả A-la-hán”.
44.3. THẬN TRỌNG VỚI TAI HỌA
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Ngày xưa, một nước nọ, quanh năm ngũ cốc được mùa, nhân dân an lạc, không có tật bệnh, ngày đêm ca múa vui chơi, chẳng ai lo phiền. Một hôm, vua hỏi quần thần:
- Trẫm nghe trong thiên hạ có tai họa, đó là gì vậy?
- Chúng thần không biết. Quần thần đáp.
Nhà vua bèn sai một vị quan đến nước lân cận tìm mua tai họa. Lúc đó, thiên thần hóa làm người, vào chợ bán một con vật lạ trói bằng dây sắt, hình dáng giống như heo.
Thấy vậy, vị quan hỏi:
- Đây là con gì?
- Là mẹ của tai họa. Thiên thần trả lời.
- Có bán không?
- Bán chứ!
- Bao nhiêu tiền?_Vị quan hỏi.
- Một nghìn vạn Thiên thần đáp.
- Hằng ngày cho nó ăn những gì?
- Ăn một thăng kim.
Sau khi mua được mẹ tai họa, vị quan ấy ra lệnh mỗi nhà phải tìm kim. Thế là mọi người xúm đôi tụm ba cùng nhau hằng ngày tìm cho đủ số; khiến nơi nơi đều hỗn loạn, người người chịu đau thương, nhưng không biết kêu cứu nơi đâu.
Vị quan tâu vua:

Phần 4

- Tuy được mẹ của tai họa, nhưng lại làm cho dân tình rối loạn, nam nữ thất nghiệp. Giờ đây, thần muốn giết chết nó, không biết bệ hạ có cho phép không?
Vua bảo:
- Tốt lắm.
Vị quan liền đem ra ngoài thành định giết, nhưng đâm thì không vào, chém thì không đứt, chặt thì khồng chết, chất củi đốt thì thân nó đỏ như lửa rồi bỏ chạy. Nó chay qua làng thì cháy làng, đến chợ thì cháy chợ, vào thành thì cháy thành, vào đất nước thì cháy đất nước, làm cho dân chúng kinh hoàng, đói khát, khốn khổ. Cảnh khổ ấy là do chán vui, rước họa gây ra.
Câu chuyện này dụ cho người nam thường bi lửa sắc dục thiêu đốt. Người đời tham đắm sắc dục đến chết vẫn không biết khổ”.
44.4. THẬN TRỌNG VỚI CẢNH DUYÊN
Kinh Chỉnh pháp niệm ghi: “Bồ-tát Khổng Tước nói với thiên chúng:
- Nếu tì-kheo nào sợ tiếng xấu thì:
Không vào nơi người nữ vui chơi.
Không vào quán rượu.
Không gần gũi cũng không nói chuyện với người bán rượu.
Không gần gũi cũng không nói chuyện với kẻ nghiện rượu.
Không giao du với kẻ trộm cắp.
Không gần người trước đây đã từng làm việc ác.
Không gần kẻ ưa đánh nhau.
Không gần kẻ độc ác, ngầm hại người.
Không gần người đã nhiều lần bỏ đạo.
Không gần kẻ đam mê cờ bạc.
Không gần người ca múa hát xướng.
Không gần gũi trẻ em.
Không gần người say đắm nữ sắc.
Không gần người tính tình nóng nảy.
Không gần người nói năng bừa bãi.
Không gần người tham lam.
Không gần người mua bán dối trá.|
Không gần những kẻ xảo trá ở đầu đường, xó chợ, bị người khinh ghét.
Không gần người đào ao, vét hồ.
Không gần kẻ hoàng môn, không đi chung đường với người nữ.
Không gần người huấn luyện voi.
Không gần kẻ làm nghề đao phủ.
Không gần người huấn luyện ngựa.
Không gần người chấp đoạn kiến.
Không gần người chẳng có giới luật.
Tì-kheo không nên gần gũi những hạng người xấu ác như thế, nếu gần những người này, thì sẽ có hành vi giống như họ.
Vì vậy, tì-kheo phải sợ tiếng xấu, không nên gần gũi, hoặc đi chung đường dù một bước với người có hành vi không chân chính.
Khi ấy, bồ-tát nói kệ:
Nếu gần kẻ xấu ác,
Sẽ thành người bất thiện,
Thế nên phải tránh ác,
Chớ làm điều bất thiện.
Hễ thân cận người nào,
Hẳn luôn gần gũi họ,
Vì thế đồng hành vi,
Hoặc thiện, hoặc bất thiện.
Những ai chuộng điều tốt, Nên gần gũi người lành,
Nhờ vậy được an vui,
Thiện không gây nhân khổ. Gần thiện tăng công đức, Gần ác thêm lỗi lầm,
Công đức và ác nghiệp,
Nay lược nói như sau:
Nếu thân cận người thiện,
Sẽ được tiếng tốt đẹp,
Còn gần người bất thiện,
Bị mọi người xem thường.
Phải luôn gần người thiện,
Xa lìa bạn bè ác,
Nhờ gần gũi người thiện,
Mà dứt bỏ việc ác ”.
44.5. THẬN TRỌNG VỚI LỖI LẦM
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Thí như một viên bi sắt nung đỏ, nếu đặt vào lụa trắng, thì lụa cháy nhanh không?
- Bạch Thế Tôn! Cháy rất nhanh! Các tì-kheo đáp.
- Này các tì-kheo! Kẻ ngu sống trong thôn xóm, sáng sớm đắp y ôm bát khất thực, không khéo bảo vệ thân, không giữ gìn các căn, khồng buộc ý niệm. DoNhững ai chuộng điều tốt, Nên gần gũi người lành,
Nhờ vậy được an vui,
Thiện không gây nhân khổ. Gần thiện tăng công đức, Gần ác thêm lỗi lầm,
Công đức và ác nghiệp,
Nay lược nói như sau:
Nếu thân cận người thiện,
Sẽ được tiếng tốt đẹp,
Còn gần người bất thiện,
Bị mọi người xem thường.
Phải luôn gần người thiện,
Xa lìa bạn bè ác,
Nhờ gần gũi người thiện,
Mà dứt bỏ việc ác ”.
44.5. THẬN TRỌNG VỚI LỖI LẦM
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Thí như một viên bi sắt nung đỏ, nếu đặt vào lụa trắng, thì lụa cháy nhanh không?
- Bạch Thế Tôn! Cháy rất nhanh! Các tì-kheo đáp.
- Này các tì-kheo! Kẻ ngu sống trong thôn xóm, sáng sớm đắp y ôm bát khất thực, không khéo bảo vệ thân, không giữ gìn các căn, khồng buộc ý niệm. Do đó, khi gặp thiếu nữ trẻ tuổi, không giữ chính niệm, chạy theo sắc tướng, khởi tâm tham dục, lửa dục đốt cháy tâm, đốt luôn cả thân. Khi thân tâm đã cháy thì liền xả giới, thoái thất đạo tâm. Kẻ ngu si này mãi mãi tăng trưởng điều phi nghĩa. Vì thế

Phần 5

tì-kheo cần phải tu học điều này: tức khi vào thôn xóm đông người phải bảo vệ vững chắc thân, giữ gìn kĩ các căn, chính tâm buộc niệm.
Đức Thế Tôn lại dạy tiếp:
- Vào thời quá khứ có một con mèo đói khát yếu gầy, đang rình bắt một con chuột trong hang để ăn thịt. Gặp lúc một chú chuột con ra khỏi hang, mèo liền há miệng nuốt. Vì chuột con quá nhỏ, nên chạy luôn vào bụng mà không bị cắn chết. Sau khi vào bụng, chuột con ăn hết nội tạng của mèo, mèo đau đớn, mê loạn chạy khắp nơi, chẳng biết đâu là nhà trống, đâu là gò hoang, cuối cùng mèo chết. Này các tì-kheo! Cũng như vậy, kẻ ngu sống trong thôn xóm, sáng sớm đắp y ôm bát khất thực, không khéo bảo vệ thân, không giữ gìn các căn, không buộc ý niệm. Do đó, khi gặp thiếu nữ trẻ tuổi, không giữ chính niệm, chạy theo sắc tướng, khởi tâm tham dục, lửa dục hừng hực đốt cháy thân tâm, làm kẻ ấy điên cuồng chạy khắp, không còn ưa thích tinh xá, dẫn đến xả giới, thoái thất đạo tâm. Kẻ ngu này mãi mãi phải chịu nỗi khổ vô ích. Vì thế tì-kheo cần phải tu học điều này: tức khi vào thôn xóm khất thực phải bảo vệ vững chắc thân giữ gìn kĩ các căn, chính tâm buộc niệm”.
Kinh Tạp A-hàm lại ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Thí như chiếc chày gỗ, nếu sử dụng liên tiếp trong thời gian dài, sẽ bị hao mòn. Tì-kheo cũng như vậy, từ xưa đên nay chưa hề đóng chặt các căn, ăn uống không biết lượng định, đầu đêm cuối đêm không tỉnh thức, siêng năng tu tập pháp thiện. Những tì-kheo này suốt ngày chỉ có tổn giảm, chứ không tăng trưởng pháp thiện, giống như chiếc chày gỗ”.
Lại nữa, kinh Tự ái ghi: “Phật dạy:
- Người sống ở đời, tâm nghĩ điều ác, miệng nói lời ác, thân làm việc ác. Ba điều này xuất phát từ tâm, thân, miệng, tạo thành nghiệp ác, làm tổn hại chúng sinh. Do bị tổn hại, chúng sinh oán hận, thề muốn báo ngay trong đời này. Hoặc sau khi chết, thần thức sinh lên trời, rồi trở xuống báo thù; hoặc sinh làm người, hay đọa làm súc sinh ngạ quỉ, địa ngục, lại đánh giết nhau. Đây đều là do nghiệp ác đời trước, chứ chẳng phải vô cớ vậy.
Đức Phật nói kệ:
Tâm làm chủ các pháp,
Tâm dẫn đầu, sai khiến
Nếu tâm khởi niệm ác,
Nói năng hay tạo tác,
Thì tội khổ theo sau,
Như xe lăn theo vết.
Tâm làm chủ các pháp,
Tâm dẫn đầu, sai khiến,
Trong tâm nghĩ điều thiện,
Nói năng hay hành động,
Thì phúc báo theo sau,
Như bóng luôn theo hình
Luận Thập trụ Tì-bà-sa ghi: “Bồ-tát tại gia khi thấy người phá giới, không nên giận dữ và khinh thường, mà nên xót thương giúp đỡ, dùng phương cách thích hợp khuyên bảo để vị ấy ngừng dứt điều xấu, sinh tâm lành. Nếu khuyên can, người ấy đã không sửa đổi mà còn mắng chửi, thì cũng không nên sân hận, tùy tiện chỉ lỗi của họ. Cho nên vào kiếp Hiền, ta nghe có vị Bồ-tát khinh chê Phật Câu-lâu-tôn rằng: ‘Đâu có kẻ trọc đầu nào mà đắc đạo’. Chúng sinh như thế thật khó hay biết, tự làm tự chịu, đâu can dự gì đến ta. Nếu suy lường đoán định người khác, có thể tự làm thương tổn mình. Suy lường đoán định người khác là việc mà Phật không chấp nhận, như kinh đã nói’. Bấy giờ Đức Phật bảo A-nan: ‘Nếu người nào suy lường đoán định người khác, tức tự làm thương tổn mình, như lời kệ sau:
Có nắp, bình cũng trống
Không nắp, bình cũng không
Có nắp, bình cũng đầy
Không nắp, bình chẳng trống.
Nên biết trong thế gian
Có đủ bốn hạng người
Oai nghi và công đức
Có-không cũng như vậy
Chẳng phải Nhất Thiết Trí
Đâu thể xét biết người.
Đâu thể nhìn oai nghi
Mà liền biết đức hạnh
Chỉ biết có thiện tâm
Đó là tướng người hiền.
Chỉ thấy dáng bên ngoài
Nào biết được bên trong
Nếu nhìn ngoài định trong
Mà khởi tâm khinh miệt
Sẽ hoại thân, căn lành
Mạng chung rơi đường ác.
Ngoài trá hiện tướng thiện
Đi đứng giống lương hiền
Chỉ nói suông nơi miệng
Như sấm động, chẳng mưa.
Như kinh ghi: “Chẳng nên khinh thường người chưa học, đồng thời kính người đang học như kính Phật”. Chỉ có trí tuệ mới phá trừ phiền não. Nếu cố suy lường đoán định người khác thì tự làm tổn thương chính minh. Chỉ có trí tuệ Phật mới biết rõ, còn ta không thể biết được những việc như thế. Do đó không khởi tâm sân hận, khinh mạn người phá giới.
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, một con ba ba gặp lúc trời khô hạn, các ao hồ đều cạn nước, không thể tự đến những nơi có thức ăn. Bấy giờ, có một con chim hộc bay đến đậu bên cạnh ba ba, ba ba liền xin chim hộc thương tình giúp đỡ. Nghe vậy, chim hộc xót thương, dùng mỏ cắp ba ba bay qua thôn khác. Ba ba không chịu im mồm, luôn miệng hỏi: ‘Đây là đâu?’. Ba ba cứ hỏi mãi, nên buộc lòng chim hộc phải trả lời, vừa mở miệng thì ba ba liền rơi xuống đất, bị người ta bắt làm thịt.
Đây là dụ cho những kẻ ngu si, mê muội không phòng hộ khẩu nghiệp, dễ đưa đến tai họa cho chính mình”.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Này các bà-la-môn! Ở đời có bốn việc mà con người không thể làm được:
1. Tuổi trẻ khoẻ mạnh mà không kiêu căng.
2. Già mà siêng năng, không tham lam, không dâm dật.
3. Có nhiều tài sản châu báu mà phát tâm bố thí.
4. Theo thầy học tập, biết ghi nhận những lời chân chính.
Như ông già này không thực hành bốn điều trên, đó gọi là không biết tính đến lẽ thành bại, nên bỗng chốc gia sản tiêu tan. Giống như con cò già đứng chầu chực trong chiếc ao không, mãi mãi không kiếm được gì.
Bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ:
Suốt ngày lười, kiêu mạn
Già chẳng bỏ dâm loạn
Có của không bố thí
Lời Phật cũng chẳng màng.
Ai lãnh bốn điều này
Chính là hủy hoại thân
Than ôi! Già đã đến

Phần 6

Thân thể đã kiệt suy.
Tuổi trẻ theo ý mình
Già đến bị người khinh
Không tu tập Phạm hạnh
Lại chẳng có của tiền.
Già như con cò trắng
Canh mãi chiếc ao không
Không giữ gìn giới hạnh
Cũng chẳng có gia tài.
Già suy tàn kiệt quệ
Hối hận có kịp đâu
Già như lá mùa thu
Vô đức lại bần hàn
Mạng sống lại chóng qua
Ăn năn cũng muộn rồi ”.
Có bài tụng:
Thận trọng nghĩ trước sau
Cốt chấn chỉnh lại mình
Miệng không nói hai lời
Tâm không vọng khởi dục
Ít ham muốn, biết đủ
Chớ quan tâm đây kia
Thận trọng lúc vui buồn
Như đứng bên vực sâu.
44.6. CẢM ỨNG
44.6.1. Đời Hán, Chu Thức ở Hạ Phì: Có lần đến vùng Đông Hải, trên đường đi, ông gặp vị quan tay cầm một quyển sách, xin đi nhờ thuyền. Đi khoảng hơn mười dặm, người ấy nói: “Tôi phải ghé qua nơi này, gửi lại quyển sách trên thuyền của ngài, nhưng chớ mở xem!”. Sau khi vị ấy đi, ông lén mở xem, thì thấy trong đó toàn là ghi chép về người chết, có cả tên của mình. Một lát sau vị quan kia trở về, thấy ông đang cúi đầu xem sách, vị ấy nổi giận nói: “Tôi đã bảo ông không được xem mà!”. Ông quì lạy, khóc than hồi lâu. Vị quan ấy nói: “Cảm ơn ông đã cho tôi đi nhờ một đoạn đường xa, nhưng không thể xóa tên ông trong sách này được. Từ hôm nay ông hãy trở về nhà, trong thời gian ba năm không được bước ra khỏi cửa, như vậy mới thoát nạn, cũng chớ nên nói là xem sách của ta”. Chu Thức theo lời, trở về, trong hai năm ông không ra khỏi cửa, người trong nhà đều lấy làm lạ. Một hôm, nhà bên cạnh có người mất, cha của Thức giận, sai ông sang phúng điếu. Bất đắc dĩ ông phải đi, vừa ra khỏi cửa thì gặp vị quan năm xưa. Vị ấy nói: “Ta bảo ông trong ba năm không được ra khỏi nhà, mà hôm nay ông lại ra, biết làm sao đây? Ta tìm không gặp ông, liên lụy đến ta bị phạt. Hôm nay đã gặp ông, thật chẳng biết làm sao? Vào đúng trưa ba ngày sau ta sẽ đến bắt ông!
Chu Thức vào nhà khóc lóc thuật lại mọi việc, cha ông không chịu tin, còn mẹ ông khóc lóc, ngày đêm cho người canh giữ, nhưng đúng ngày giờ đã nói, thấy vị quan ấy đến bắt, thế là Chu Thức liền qua đời.
44.6.2. Đời Hán một người dân Cú Chương, Cối Kê: Một hôm ông này từ Đông Dã trở vể, trời đã tối, thấy trong ngôi nhà nhỏ ven đường có ánh đèn, ông vào nghỉ đêm. Tại đây ông gặp một cô gái; cô này vì không muốn ở cùng chồng, nên rủ một cô nhà bên cạnh làm bạn ra ngoài dạo chơi. Đêm đến họ cùng nhau gảy đàn không hầu và vui ca:
Dây bò lan bên thềm Một cứng lại một mềm Tên ta, ông muốn biết Họ Trần, tên A Đăng,
Sáng hôm sau, người này đi đến ngoại ô thành Đông, nghỉ chân trong một quán bán thức ăn của một người mẹ, ông này kể lại chuyện khi tối. Bà mẹ nghe nói đến A Đăng, liền nói: “A Đăng là con gái của ta vừa qua đời và chôn bên ngoài thành”.
44.6.3. Đời Hán, Ngô Tường, sai dịch huyện Chư Kí: Sợ làm sai dịch lao khổ, nên Ngô Tường bỏ trốn vào núi sâu. Trên đường đi, gặp một dòng suối. Bấy giờ trời săp tối, Tường thấy một thiếu nữ xinh đẹp, áo quân sặc sỡ. Cô gái nói: “Tôi chỉ sống một mình, không xóm làng thân thuộc, chỉ có một bà lão cô độc sống cách tôi mười bước chân”. Tường nghe cô gái nói, lòng vô cùng vui mừng, liền đi theo. Hơn một dặm thì đến nhà cô gái ấy. Nhà rất nghèo, cô gái làm cơm mời Tường.
Cuối canh một, Tường nghe một bà lão gọi: “Trương Cô Tử!” Cô gái liền đáp: “Dạ!”. Tường vội hỏi: “Ai vậy?”. Cô gái đáp: “Bà già cô độc mà tôi đã nói khi chiều với anh!”. Sau đó hai người đi ngủ. Đến lúc gà gáy sáng, Tường từ biệt ra đi, hai bên đã có tình ý, nên lưu luyến, cô gái tặng cho Tường một chiêc khăn màu tím, Tường tặng lại một chiếc khăn tay bằng vải.
Tường đi mãi đến chỗ dòng suối, nơi gặp cô gái tối hôm trước, để vượt qua. Nhưng hôm ấy nước dâng cao, chảy xiết, không thể lội qua. Tường bèn trở về nhà cô gái, nhưng khi đến nơi, chỉ thấy một ngôi mộ hoang.
44.6.4. Đời Tấn, người họ Chu ở Nghĩa Hưng: Khoảng niên hiệu Vĩnh Hòa (345-357), người họ Chu cưỡi ngựa với hai tùy tùng lên kinh đô. Một hôm, trời sắp tới mà thôn xóm còn xa, Chu thấy bên đường có một ngôi nhà tranh mới dựng, một thiếu nữ khoảng mười sáu mười bảy tuổi, dung mạo xinh đẹp, áo quần rất sạch đẹp, vừa bước ra cửa ngóng trông. Cô gái thấy Chu đi đến liền nói: “Trời đã tối, thôn xóm còn xa, đâu thể đến được Lâm Hạ!”. Chu bèn xin tá túc. Cô gái nổi lửa làm cơm mời Chu. Vừa sang canh một, Chu nghe bên ngoài có tiếng trẻ con gọi: “A Hương!”. Cô gái đáp: “Vâng!”. Cô lại nghe nói: “Quan gọi chị đẩy xe sấm!”.
Cô gái từ biệt Chu và nói: “Hôm nay có việc tôi phải đi!”. Đêm ấy trời nổi sấm chớp, tuôn mưa lớn, gần sáng thì cô gái ấy trở về. Chu lên ngựa, nhìn lại nơi nghỉ lại đêm qua, chỉ thấy một ngôi mộ mới, cửa mộ còn phân ngựa và một ít cỏ thừa, Chu sợ hãi, thở than. Năm năm sau, quả nhiên Chu làm Thái thú Lâm Hạ.
44.6.5. Đời Tấn, Hồ Mậu Hồi ở Hoài Nam: Mậu Hồi có năng lực thấy quỉ, dù không muốn nhưng chẳng thể được, về sau ông đến Dương châu, rồi trở lại Dương Thành. Khi đi đến phía đông thành này, gặp lúc nhân dân thỉnh thầy pháp đến cúng tế tại miếu thần. Bỗng có bầy quỉ la lớn: “Quan trên sắp đến, chúng ta hãy mau rời khỏi miếu!”. Hồi quay lại nhìn thấy hai vị sa-môn từ ngoài bước vào. Bọn quỉ, từng nhóm hai ba con ôm chặt nhau nấp trong đám cỏ bên miếu nhìn ra. Chúng lén nhìn các vị sa-môn với dáng vẻ sợ hãi. Lát sau hai sa-môn rời miếu, bọn quỉ lại trở vào. Từ đó Mậu Hồi tin Phật, siêng năng phụng thờ Tam bảo.
44.6.6. Đời Tống, Hồ Tỉ Chi ở Dự Chưorng: Tỉ Chi từng làm Quận thừa ở Dự Chương, vào niên hiệu Nguyên Gia hai mươi sáu (449). Một hôm ông vào phủ quan thấy có quỉ. Đó là vào lúc nửa đêm, ánh trăng mờ tối, cửa sổ hé mở, ông thấy có người đứng bên ngoài nhà, hình dáng như đứa bé. Ông đóng cửa thì nghe có tiếng chân người mang guốc gỗ bước đi, nhiều lần như vậy.
Vào tháng ba niên hiệu Nguyên Gia hai mươi tám (451), cả nhà đều bị thời bệnh. Bấy giờ trên không trung có tiếng bảo ném ngói đá hoặc đất khô. Sức ném rất mạnh, người bệnh nằm trong nhà đều bị trúng. Ông bèn giữ trai giới, thỉnh chư tăng suốt đêm tụng kinh, thì lại bị ném nhiều hơn, chỉ có chư tăng và quyển kinh là không bị trúng. Sang thu đông, dần dần phát ra tiếng ngói đá ném người. Nơi bị trúng chỉ bầm xanh, mà không đau. Tỉ Chi có một nô bộc già, mắng chửi quỉ rất hay, quỉ đứng một bên vô cùng tức giận. Sau đó Tỉ Chi mời Tế tửu dâng sớ, dán bùa xua đuổi, dần dần quỉ bỏ đi hết.
Đến niên hiệu Nguyên Gia hai mươi chín (452), quỉ lại đến, còn nhiều hơn trước. Năm sau, phủ quan lửa cháy bốn bề, quỉ không còn quấy rối nữa. Bấy giờ mọi người thường nghe tiếng khóc than, thân thuộc đều cho là tiếng quỉ xin ăn. Sau bỗng nhiên có tiếng nói như giọng người nước Ngô, canh ba gõ cửa, Tỉ Chi hỏi thì đáp: “Trình Thiệu Lăng”. Nhưng khi cầm đèn ra xem thì không thấy ai.
Vài hôm sau, vào canh hai lại có tiếng gõ cửa, Tỉ Chi mắng thì có tiếng nói:
- Anh chớ mắng, ta là thiện thần, không phải người đến hôm trước. Đào ngự sử nhờ ta đến báo với anh!
Tỉ Chỉ nói:
- Tôi không biết Đào ngự sử!
Quỉ nói:
- Đó là Đào Kính Huyền, khỉ xưa đã cùng với anh đi khắp nơi!
Tỉ Chi nói:

Phần 7

- Khi tôi và ông ta ở kinh đô, cùng nhận chức tại Hành Dương, chưa từng làm ngự sử.
Quỉ nói:
- Đào công nay đang ở phúc địa, làm ngự sử trên cõi trời. Kẻ nhiều lần đến quấy rối anh chính là Thẩm công. Ngôi quan phủ này vốn là nhà của Thẩm công, hôm Thẩm công về thăm nhà bảo người ném đá. Vì hận anh xua đuổi thái quá, lại chửi mắng, rồi sai nhũ mẫu vô lễ với Thẩm công, sau đó anh còn mời Tế tửu dâng sớ trình bày tội trạng lên đến Thiên tào. Bây giờ Thẩm công đang ở trên trời nói anh là đệ tử thụ Tam qui của Phật, sao không theo lời Phật dạy cầu phúc, lại mời Tế tửu dâng sớ. Từ nay xin anh nên chuyên tâm tuân phụng Phật pháp, không nên chống đối với ác quỉ, sẽ khó khăn cho mình”.
Tỉ Chi nghe thế, bèn thỉnh chư ni tụng kinh, thụ trai xong. Trải qua một đêm, lại nghe bên ngoài, ngự sử báo rằng: “Hồ thừa bị Thẩm công tố cáo. Nếu đúng như lời tố ấy, thì anh thật quá đáng. Nếu chí thành qui y Phật, đọc tụng kinh điển, nghiêm trì giới luật, thì quần tà sẽ tiêu trừ. Nghĩ đến tình thân ngày trước, nên tôi đến đây báo cho anh biết!”.
44.6.7. Đời Tống, Trương Ất: Trong khoảng niên hiệu Thái Thỉ (465-472), một hôm anh ta bị người đánh đập, vết thương làm đau đớn mãi không hết. Có người bảo đốt xương người chết tán thành bột rồi thoa vào vết thương. Anh ta nghe lời, mướn một đứa bé cùng phòng lên sườn núi tìm đem về một chiếc đầu lâu, rồi làm đúng theo lời người đã chỉ dẫn. Đêm hôm ấy, anh ta đặt một lò than cháy đỏ trong phòng, và sai đứa bé này giữ lửa. Bỗng nhiên trong khoảng không có một vật hiện ra đè đầu đứa bé vào lò và mắng: “Vì sao ngươi đốt đầu ta! Bây giờ ta thưởng cho ngươi lò lửa này !”.
Đứa bé la lớn: “Trương Ất đốt chứ không phải tôi”. Có tiếng bảo: “Nếu ngươi không lấy đầu ta giao cho Trương Ât, thì Trương Ất lấy gì để đốt!”, cứ tiếp tục đè đầu đứa bé hồi lâu, cho đến lúc tóc cháy hết phỏng cả da thịt rồi mới bỏ đi. Trương Ẩt thấy thế, vô cùng hoảng sợ, chôn phần xương đầu còn lại về nơi cũ, rồi dâng cúng rượu thịt, bấy giờ mới hết hiện những điều kì dị.
44.6.8. Đời Tống, Lí Di ở Tương thành: Lí Di tự là Cảnh Chân, cha của ông không tin yêu quái. Nơi ấy có một ngôi nhà, xưa nay nổi tiếng là đại hung, không ai ở được, nếu ai đến ở thì chết. Cha ông bèn mua ngôi nhà này, trải qua nhiều năm mà gia đình vẫn an lành, con cháu đầy đàn, mỗi năm thu hoạch hai nghìn thạch lúa. Sau đó ông được thăng quan, lúc sắp dời nhà, cha ông mời thân thích nội ngoại đến, sau khi bày biện rượu thịt, ông nói với mọi người: “Trên đời này có việc cát hung chăng? Ngôi nhà này có tiếng là hung hiểm, nhưng tôi đến ở nơi đây đã nhiều năm mà vẫn bình yên, lại còn được thăng quan. Quỉ ở đâu? Từ nay về sau đây sẽ là ngôi nhà phúc lộc. Người sống ở đời, lòng nên ngay thẳng thì không có gì phải sợ!”. Cha ông vừa nói xong, bỗng đâu từ trong vách xuất hiện một vật lớn như bó chiếu, cao năm thước, màu trắng. Cha ông rút đao chém ngay giữa, thì biến thành hai người, lại chém ngang hai người này, thì hóa thành bốn người. Bốn người này đoạt lấy đao chém chết cha ông, sau đó chém chết hết con cháu ông và những người mang họ Lí, người khác họ thì không sao. Bấy giờ Lí Di còn đang tuổi ẵm bồng, biết có việc chẳng lành, nhũ mẫu bế ông lén thoát ra cửa sau, chạy đến trốn tại một gia đình khác. Do đó chỉ mình ông còn sống sót. về sau ông làm quan đến chức Thái thú, trấn nhậm Tương Đông.
44.6.9. Chu Tuyên đế: Tuyên đế Vũ Ván Uân, lúc còn là thải tử, ông được Vũ đế giáo huấn rất nghiêm, lại sai Thành Thận giám sát chặt chẽ. Nếu thải tử có lỗi mà che giấu, không tâu thì chém đầu. Thế là Thận thường tâu Vũ đế những việc trái phạm của thái từ. Mỗi lần như thế, thái tử đều bị Vũ đế đánh đập, tính ra hơn trăm lần. Đến lúc kế vị, ông nhìn vết sẹo trên đùi, mới hỏi đến Thành Thận, có người tâu Thành Thận hiện làm quận thú, ông bèn triệu về và xử tội chết Thành Thận phẫn uất tâu: “Đây là cha của ngươi làm. chứ Thành Thận có tội gì, mà định ta tội bội nghịch. Sau khi chết, nếu có biết thì ta sẽ không tha cho ngươi!”.
Bấy giờ vua cấm những người trong cung gặp mặt nhau, không được tự tiện nói năng cười đùa. Nhà vua còn sai giảm quan ghi chép nhừng người vi phạm. Bây giờ có một thị nữ cùa Tả hoàng hậu ngáp dài, trườn hông và chảy nước mắt Giảm quan cho là có suy nghĩ khác, nên bắt cô này đến trước vua tra khảo, rồi đánh vào đầu thị nữ một gậy, bỗng nhiên đầu vua cũng đau, đánh vào cổ cô một cái thì cổ vua cũng đau. Tuyên đế nổi giận nói: “Đây là oan gia của trẫm!”. Liền sai người đánh gãy ngang hông thị nữ, thị nữ chết ngay, tức thời lưng của Tuyên đế cũng đau. Đêm ấy đế đến Nam cung, bệnh dần dần nặng thêm; đến sáng lưng đau, không thể cưỡi ngựa, mà phải lên xe trở về. Trên đất, nơi giết thị nữ có một vết đen, giống như hình người, mọi người cho là máu, nên tẩy rửa, chà xát nhiều lần mà vẫn không hết. Sau đó đào bỏ đất ấy, đổ vào đất mới, nhưng qua một đêm, vết đen giống hình người hiện ra như cũ. Bảy tám ngày sau, Tuyên đế bị ung nhọt lở loét khắp thân mà băng. Lúc đầu, khi vừa đặt thi thể của vua xuống giường thì chân giường đều gấp cong, không thể bẻ thẳng được, chỉ có chân chiếc giường của cô thị nữ đã chết là thẳng, bèn dùng đặt thi hài vua. Đó là ý của quỉ thần vậy. Tính ra từ ngày Thành Thận chết đến ngày vua băng chỉ có hai mươi ngày.
44.6.10. Đời Tề, Thích Tuệ Dự: Sư người Hoàng Long, đến kinh đô trụ chùa Linh Căn. Thuở nhỏ sư rất hiếu học, đi khắp nơi hỏi đạo, giỏi đàm luận, phong thái ung dung. Mỗi lần nghe việc thế sự khen chê, sư liền bịt tai bỏ đi, có lúc lại dùng lời lẽ phản đối để ngăn dứt tranh luận. Sư chuyên tụng kinh Pháp hoa, Niết-bàn, Thập địa, tu tập thiền định, tinh thông ngũ môn.
Có lần, sư mộng thấy ba người áo mão sạch đẹp chỉnh tề, cầm lọng hoa, đến gõ cửa. Sư hỏi:
- Các ông tìm ai?
Họ đáp:
- Pháp sư sắp thị tịch, chúng tôi đến đây cung đón ngài.
Sư nói:
- Còn chút việc chưa xong, có thể kéo dài thêm một năm nữa được không?
Họ đáp:
- Thưa được!
Đúng một năm sau, vào niên hiệu Vĩnh Minh thứ bảy (489), sư thị tịch, thọ năm mươi bảy tuổi.
44.6.11. Đời Đường, Cao Pháp Nhãn ở Trường An: Ông là cháu năm đời của quan Bộc xạ Cao Dĩnh đời Tùy. Vào ngày hai mươi lăm tháng giêng niên hiệu Long Sóc thứ ba (663), ông đến Trung Đài dự tuyển, đến Ngọ thì trở về. Nhà ông ngụ tại phía đông chùa Hóa Độ, góc đông nam phường Nghĩa Ninh, mặt nhà hướng ra phố lớn. Bây giờ ông muốn theo cổng Thuận Nghĩa phía tây để xuất thành về nhà. Trong thành ông đã thấy hai kị mã theo sau, ra khỏi thành thì hai người này đuổi theo sát, ông bèn chạy về hướng bắc vào chùa Phổ Quang. Một trong hai kị mã nói:
- Ngươi chạy nhanh đến chặn cổng chùa, chớ để người này vào chùa!
Ngươi kia sợ bắt không được, nên phi ngựa nhanh đến chặn cổng. Ông sợ không vào chùa được, nên chạy về hướng tây đến phường Kim Thành. Lại phía tây của đường Nam môn có chùa Hội Xương, lại thấy bốn người cưỡi ngựa nói với hai kị mã kia:
- Mau chặn cổng chùa Hội Xương!
Hai người này theo lời phi nhanh đến chặn cổng chùa. Bấy giờ ông vô cùng hoảng sợ, hỏi hai kị mã:
- Các ông là ai mà dám bắt ép tôi?
- Vua sai tôi đến bắt ngươi!
Ông hỏi:
- Vua nào sai bắt?
- Vua Diêm-la sai bắt! Hai người ấy đáp
Ông nghe vậy biết là quỉ, nên kháng cự. Quỉ tức giận hét:
- Mau cắt tóc của hắn đi!
Quỉ khác liền vung đao hớt phăng hai búi tóc dính cả da thịt rớt xuống đất. Ông chạy khu phố tây thì mê man, ngã ngựa, nằm chết giấc trên đất. Vì đây là con đường chính của khu phố tây, nên trong chớp mắt cả nghìn người kéo đến xem. Quan tuần thành là Quả Nghị nổi giận, hỏi lính tuần về việc dân chúng tụ tập đông đảo, người này liền thuật lại sự việc đã thấy. Vị này chần chừ một lát rồi nói cho mọi người biết nhà của họ Cao ở đầu phố tây. Thế là lính tuần báo cho thân thuộc đến đưa ông về. Sáng hôm sau, ông tỉnh lại nói với người nhà:
- Tôi vào địa ngục thấy Diêm-la thăng tòa cao giận trách rằng: “Tại sao ngươi đến phòng của sư Minh Tạng dùng trái cây của tăng thường trụ? Nay ngươi phải nuốt bốn trăm viên sắt nóng trong bốn năm. Một ngày ở nhân gian bằng một năm ở địa ngục, vậy bốn ngày là xong. Bắt đầu từ ngày hai mươi sáu đến ngày hai mươi chín tháng giêng mỗi ngày nuốt một trăm viên”.

Phần 8

Thế là đúng vào sáng sớm ngày hai mươi sáu, quỉ lại đến bắt ông. Ông chống cự, nhưng sức yếu, nên không thắng, lại phải chết. Thần hồn vào địa ngục nuốt viên sắt nóng. Lúc nuốt cổ thắt lại, toàn thân co rút, đỏ hồng, nuốt hết mới tỉnh lại. Sau khi tỉnh lại
Diêm vương bảo: “Tại sao ngươi không kính Tam bảo, nói lỗi của tăng? Ngươi phải chịu một năm trâu cày trên lưỡi”. Do đó, ngày hai mươi chín vừa nuốt xong bốn trăm viên sắt nóng, thì qua sáng sớm ngày ba mươi lại chết. Thần hồn lại vào địa ngục chịu hình
phạt; cày sắt cày trên lưỡi. Bấy giờ tự thấy lưỡi mình
dài mấy dặm, người đứng cạnh thi thể thấy lưỡi Cao Pháp Nhãn thè ra mấy hơn một thước. Diêm vương bảo ngục tốt: “Kẻ này nói chuyện tốt xấu của Tam bảo, nên lấy búa sắt cắt lưỡi!”. Nhưng ngục tốt chặt không đứt; Diêm vương bảo lấy búa cắt nhỏ rồi bỏ vào vạc nước sôi, nhưng nấu không nát. Diêm vương lấy làm lạ, hỏi nguyên do. Pháp Nhãn đáp: “Tôi từng tụng kinh Pháp hoa”. Diêm vương không tin, cho kiểm tra lại phần công đức, thấy trong án lịnh có ghi tụng một bộ kinh Pháp hoa. Diêm vương liền tha cho trở về. Ông sống lại như xưa, ngươi đến xem đông như chợ, tất cả đều phát tâm. Từ đó cả nhà tin Phật, gắng sức siêng năng bố thí, nhẫn nhục, chí thành tu tập không mỏi mệt. Tăng tục ở kinh đô đều biết việc này.
45. CHƯƠNG KIỆM ƯỚC
45.1. LỜI DẪN
Nhận lầm qua lời nói suông, không bằng xác chứng qua sự thật; tin đồn phảng phất không bằng mắt thấy tai nghe. Cho nên tin không bằng học, nói không bằng làm. Vì thế suy xét tận nguồn, nghiên cứu tận lí là nền móng to lớn của đấng Đại thánh; bặt cảnh duyên, bớt mong cầu là tâm lượng lớn của bậc chí nhân. Nếu không lập tâm rộng lớn thì đâu có được sư cảm ứng vô cùng. Vì thế chỉ một sợi vải, một hạt gạo mà lòng nghĩ cứu giúp bốn loài, trong một sát-na một đàn chỉ mà hăng tu sáu độ. Thế thì trong chớp mắt mà được công cao mãi đến vị lai, giữ lòng kiệm ước thì đức phong càng siêu việt.
45.2 DẪN CHỨNG
Luận Tân Bà-sa ghi: “Đức Phật hỏi:
- Trong chúng đây có Đại Ca-diếp-ba sống thiểu dục tri túc, tu tập đầy đủ hạnh đầu-đà, và Bạc-củ-la ít bệnh, tiết kiệm, tu tập trọn vẹn tịnh giới. Hai đệ tử này có gì khác nhau?
- Bạch Thế Tôn! Tôn giả Đại Ca-diếp-ba khi khất thực, được thức ăn ngon hay dở đều theo thứ tự thụ dụng chứ không chọn lựa, giống như ngựa hay cho gì ăn nấy. Tôn giả Bạc-củ-la khi được thức ăn, chỉ chọn dùng thức ăn dở, loại bỏ thức ăn ngon. Như khế kinh ghi: ‘Có bốn giòng thánh: một, tự biết đủ với thức ăn xin được; hai, tự biết đủ với y phục đàn việt cúng dường; ba, tự biết đủ với ngọa cụ đàn việt cúng dường; bốn, hoặc có hay không có đều thích đoạn, thích tu”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Bấy giờ có một vị ngoại học là bạn thân của tôn giả Bạc-câu-la khi ngài chưa xuất gia. Vào buổi xế, vị này đến chỗ tôn giả Bạc-câu-la thưa hỏi nghĩa lí. Bạc-câu-la liền giảng nói:
- Tôi học đạo trong chính pháp luật này đến naỵ đã là tám mươi năm, mà chưa từng khởi ý niệm về dục; từ khi tôi đắp y phấn tảo đến nay đã tám mươi năm chưa khởi ý niệm cống cao, cũng nhớ chưa từng thụ nhận y của cư sĩ, chưa từng cắt vải may y, chưa từng nhờ tì-kheo khác may y, chưa từng cầm kim vá y, chưa từng cầm kim may túi, cho dù một sợi chỉ. Từ khi tôi khất thực đến nay đã tám mươi năm mà chưa từng khởi một niệm cống cao, chưa từng nhận lời cư sĩ thỉnh mời, chưa từng không theo thứ tự khất thực, chưa từng khất thực nơi nhà sang giàu để được những món tuyệt hảo, chưa từng nhìn ngắm người nữ, chưa từng vào phòng tì-kheo-ni, chưa từng nói chuyện với tì-kheo-ni, cho dù là trên đường đi; chưa từng nuôi dưỡng sa-di, chưa từng thuyết pháp cho hàng cư sĩ dù chỉ bốn câu kệ, chưa từng có bệnh dù chỉ đau đầu trong khoảnh khắc, chưa từng uống thuốc dù chỉ một mảnh ha-lê-lặc. Tôi ngồi kết-già đã tám mươi năm mà chưa từng tựa vách hay gốc cây, chỉ trong ba ngày ba đêm tôi chứng Tam-đạt trí. Tôi ngồi kết-già mà vào niết-bàn.
Đó gọi là pháp chưa từng có của tôn giả Bac câu-la”.
Luật Tăng-kì có bài kệ:
Muốn được vui tịch diệt
Nên học pháp Sa-môn
Dừng trụ, giữ thân mạng
Như rắn vào hang chuột.
Muốn được vui tịch diệt
Nên học pháp Sa-môn
Y thực giữ thân mạng
Ngon dở đều tùy thuận.
Muốn vui tịch diệt
Nên học pháp Sa-môn
Tất cả biết dừng, đủ
Chuyên tu đạo Niết-bàn.
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có vị tì-kheo ngồi nơi gốc cây tu đạo. Một con khỉ sống ở trên cây thấy vị tì-kheo thụ trai, nó liền xuống ngồi một bên. Thụ trai xong, vị tì-kheo lấy cơm dư cho nó. Hằng ngày, khỉ được ăn no, nên lấy nước cho vị tì-kheo này tắm rửa, trải qua nhiều tháng như vậy. Một hôm, vị tì-kheo bỗng quên, không để phần cơm cho khỉ. Khỉ rất giận, liền lấy cà-sa của vị tì-kheo đem lên cây xé nát, Vị tì-kheo cũng tức giận, liền lấy gậy đánh, lỡ tay làm khỉ chết. Mấy con khỉ khác đến khiêng khỉ chết đến chùa. Chúng tì-kheo thấy vậy biết hẳn phải có lý do, nên tập hợp chúng tăng để tìm hiểu, tì-kheo kia kể lại đầy đủ sự việc.
Bấy giờ Đức Phật dạy:
- Từ nay trở đi, mỗi khi thụ trai, chúng tì-kheo phải sớt phần ăn của mình để thí cho các loài vật, không được ăn hết”.
Luật Ngũ phần ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, có một tiên nhân sống trong một hang động bên dòng sông Khắc-già. Hằng ngày long vương từ sông xuất hiện, dùng thân vây quanh tiên nhân bảy vòng, đầu che phía trên, hướng xuống dưới cung kính nhìn tiên nhân. Khi tiên nhân du hóa, các đệ tử giữ hang, long vương cũng như trước hằng ngày đều đến. Các đệ tử quá sợ hãi, nên thân hình rất gầy ốm. Bấy giờ ta đang hành đạo Bồ-tát, dần dần đi đến bên sông Khắc-già. Ta thấy cảnh huống ấy, liền hỏi nguyên do, mọi người đều thuật lại đày đủ. Ta lại hỏi: ‘Các vị muốn không gặp long vương chăng?’. Tất cả đáp là muốn. Ta hỏi tiếp: ‘Các vị thấy dưới cổ long vương có vật gì?’. Đáp: ‘Có hạt châu ma-ni!’. Ta bảo: ‘Khi long vương đến, các vị chắp tay thưa: ‘Hôm nay chúng tôi cần hạt châu Ma-ni dưới cổ của ngài, xin ban cho chúng tôi!’. Các đệ tử của tiên nhân nhớ lời này, nên khi long vương từ sông xuất hiện, họ liền xin hạt châu. Long vương nghe mọi người xin hạt châu, liền dừng bước, im lặng không nói nên lời.
Các đệ tử của tiên nhân nói kệ:
Long vương! Chúng tôi cần
Hạt châu dưới cổ ngài
Trong lòng rất quí thích
Sao ngài không nói gì?
Long vưomg cũng dùng kệ đáp:
Tất cả vật tôi cần
Từ hạt châu mà có
Nay các vị đã xin
Vĩnh viễn tôi không đến
Như tiếng lửa cháy mạnh
Khiến người đều sợ hãi
Nay ta nghe nói thế
Còn sợ hơn việc kia.
Thế Tôn dẫn chuyện xưa và thuyết kệ:
Xin vật người không thích
Nói mãi người oán ghét

Phần 9

Như long vương nghe xin
Ra đi không trở lại.
Phật lại dạy các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, vua nước Ca-di rất thích bố thí, thường cung cấp cho những người bần cùng. Lúc ấy có một vị Phạm chí rất được vua kính trọng, ông chưa từng cầu xin vua điều gì. Nhà vua nói kệ với vị ấy:
Mọi người không ngại xa
Đều đến đây xin ta
Còn khanh luôn bên ta
Vì sao không cầu gì?
Phạm chí cũng dùng kệ đáp:
Xin thì người không thích
Không cho, sinh oán ghét
Sở dĩ không cầu xin
Vì sợ mất tình thân
Vua liền nói kệ:
Xin, chẳng tổn đức hạnh
Thân miệng cũng không lỗi
Bỏ hữu để bù vô
Vì sao mà không cầu Phạm chí đáp:
Người hiền không nói xin
Nói xin tức chẳng hiền
Im lặng không cầu xin
Đó mới là đại hiền
Nghe Đức Phật nói kệ bài kệ Hiền nhân, lòng vua vô cùng vui mừng, dâng cúng một trâu chúa và hơn nghìn trâu thường”.
Có bài tụng:
Sáu căn không cuồng phóng
Bốn nhiếp mở tâm ngu
Kiệm ước tránh thế trần
Ẩn tích chốn sơn lâm.
Suối quanh im vó ngựa
Cành lá làm màn che
Ao, đài tụ băng tuyết
Hiên, cửa đón chim về.
Màu đá không cũ mới
Đỉnh núi chẳng xưa nay
Xe lớn sao xa mịt
Ngựa phi tiễn quá nhanh.
Làm sao tu lục niệm
Chí thành tại một lời
Chưa cưỡi thuyền từ báu
Chỉ luống nguyện biển sâu
45.3. CẢM ỨNG
45.3.1. Đời Tấn, Đơn Đạo Khai: Sư họ Mạnh, người Đôn Hoàng, lúc nhỏ đã có chí ẩn cư, tụng làu hơn bốn mươi vạn lời kinh, không ăn ngũ cốc, chỉ dùng hạt bách. Lâu ngày rồi hạt bách cũng hiếm, sư lại dùng nhựa tùng, sau cùng thì ăn những viên đá nhỏ, mỗi lần nuốt vài viên, hai ba ngày mới dùng một lần, có lúc cũng dùng gừng và tiêu; trải qua bảy năm như vậy. về sau sư không sợ lạnh nóng, mùa đông thì mặc áo cánh, mùa hạ lại mặc áo bông, ngày đêm không nằm. Mười đồng học của sư cũng sinh hoạt như thế, sau mười năm có người chết, có người lui sụt, chỉ mình sư vẫn giữ vững tâm chí.
về sau thái thú Tấn Lăng đưa ngựa đến đón, nhưng sư chối từ và đi bộ hơn ba trăm dặm, trong một ngày thì đến nơi. Có lúc thần núi rừng hiện dị hình để thử, nhưng sư không mảy may sợ hãi. Niên hiệu Kiến Vũ mười hai (346) đời Thạch Hổ, một hôm sư từ Tây Bình, trong một ngày vượt bảy trăm dặm đến Nam An độ một đồng tử làm sa-di. Sa-di này lúc mười bốn tuổi truyền bá giáo pháp và cũng đi nhanh như sư vậy. Bấy giờ quan Thái sử tâu Thạch Hổ: “Có sao Tiên nhân hiện, nhất định có bậc cao sĩ vào nước ta”. Thạch Hổ sắc cho các châu quận, hễ thấy dị nhân thì tấu trình gấp. Đến tháng mười một năm ấy, thứ sử Tần châu dâng biểu thỉnh sư. Lúc đầu sư trụ tại miếu Pháp Lâm, phía tây Nghiệp đô, sau đó dời đến chùa Chiêu Đức ở Lâm Chương. Sư tạo trong phòng một căn gác và thường vào đó tọa thiền. Thạch Hổ cúng dường trọng hậu, nhưng sư đều bố thí hết. Những người thích đạo tiên thời bây giờ thường đến thưa hỏi, nhưng sư không đáp, chỉ nói bài kệ:
Ta chịu tất cả kho
Xuất gia làm lợi người
Lợi người cần học đạo
Học đạo mới đoạn ác
Núi sâu không lương thực
Lập kế đoạn thực này
Không cầu làm tiên lữ
Xin chớ có truyền rao.
Ngài Phật Đồ Trừng nói: “Vị đạo nhân này dự đoán đất nước hưng suy, nếu ông bỏ đi thì sẽ có họa lớn”. Đời Thạch Hổ, niên hiệu Thái Ninh thứ nhất (349), sư dẫn đệ tử đi về phương nam đến Hứa Xương. Thế là con cháu Thạch Hổ tàn sát lẫn nhau, Nghiệp đô đại loạn. Đến niên hiệu Thăng Bình thứ ba (359) đời Tấn, sư lại đến Kiến Nghiệp, không bao lâu lại về Nam hải, sau cùng vào núi. La Phù cất am tranh ẩn cư, thong dong ngoài trần thế. Khoảng ngoài trăm tuổi, sư thị tịch tại núi này. Đệ tử làm theo lời sư dặn dò, nên chuyển nhục thân sư vào trong hang đá.
Khương Hoàng ngày xưa sống tại Bắc Giản, nghe đệ tử của sư kể lại, là lúc sư trụ trong núi, thường có thần tiên lui tới, bèn từ xa hướng về đỉnh lễ. Sau đó Khương Hoằng lao dịch tại Nam Hải, lại gặp sư, được ở bên sư hầu hạ học hỏi, nghe biết rất nhiều điều, bèn ghi chép lại để lưu truyền.
Có bài tán:
Nghiêm cẩn thay! Thiện nhân
Thong dong bặt trần thế
Ngoài theo pháp Tiểu thừa
Trong thể nhập thân không
Thiên tượng thật sáng ngời
Đã bước đến đỉnh cao Uống ăn thật đạm bạc Lưu lạc chốn núi rừng
Đời Tấn, niên hiệu Hưng Ninh thứ nhất (363), Viên Hoàng ở quận Trần làm thái thú Nam Hải, cùng với em là Dĩnh Thúc và sa-môn Chi Pháp Phòng đồng lên núi La Phù, đến cửa thạch thất thì thấy cốt thân của sư cùng với hương đèn và các vật dụng bằng đất vẫn còn.
‘ Hoằng nói: “Hạnh nghiệp của pháp sư hơn người, đúng là bậc siêu thoát!”. Hoằng liền làm bài tán:
Bậc kiệt xuất linh kì Đức hạnh chảng ai bì Thăm thẳm không người đên Nhìn hang động muốn vào Nhẹ thoáng bóng linh tiên Ngày nay nào vân tập Dời gót chốn lâm tuyền Nghìn năm chỉ một thân.
về sau các sa-môn Tăng Cảnh, Đạo Tiềm... đều đến núi La Phù, nhưng không thể lên đến đỉnh.
45.3.2. Đời Đường, Đỗ Trí Khải người Li Hồ, Tào châu: Lúc nhỏ ông đã thích kinh điển nhà Phật, không làm quan, không cưới vợ, mặc y phục của tăng, ẩn cư tại Thái sơn, chuyên tâm đọc tụng kinh điển. Năm Trinh Quán hai mươi mốt (447), bị bệnh nặng sắp chết, ông trùm ca-sa lên thân, nằm hôn mê. Trong lúc mê man, ông như mộng thấy một bà cụ và mấy mươi cô gái nhiều lần đến quấy nhiễu, nhưng vẫn không xao động. Các cô gái dần dần đến gần bức ép và nói: “Hãy khiêng người này ném xuống khe ở phía bắc đi!”. Thế là họ cùng đến lôi kéo, khi có người vừa nắm lấy ca-sa, thì tự nhiên đồng thanh niệm Phật, rồi lui lại và sám hối, cầu xin vì họ tạo tượng Đức Phật A-di-đà, tụng hơn ba mươi biến danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm. Trong khoảnh khắc ông giật tỉnh. Toàn thân toát mồ hôi, bệnh cũng qua khỏi.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục