Buddha.com.vn

Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC

05/03/2016

Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC Một hôm, Tổ gọi các đệ tử Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như đến, nói rằng: Các ngươi không giống như người khác, sau khi Ta d...

Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC
Phần 1

Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC

Một hôm, Tổ gọi các đệ tử Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như đến, nói rằng: Các ngươi không giống như người khác, sau khi Ta diệt độ, quý vị mỗi người một phương truyền pháp. Nay Ta dạy các ngươi thuyết pháp chẳng mất bổn tông. Trước nói pháp môn Ba Khoa, động dụng có 36 pháp, ra vào phải lìa hai bên, thuyết tất cả pháp chớ lìa tự tánh. Chợt có người hỏi pháp, mở lời lấy pháp đối đến đi làm nhân, dứt sạch biên bờ, rốt ráo ba pháp cũng bỏ, lại không chỗ bỏ. Pháp môn Ba Khoa là ấm, giới, nhập. Ấm là năm ấm:
sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhập là mười hai nhập: ngoài có sáu trần là sác, thanh hương, vị, xúc, pháp, trong có sáu cửa là mắt, tai, mui, lưỡi, thân, ý. Giới là mười tám giới: sáu trần, sáu căn, sáu thức.
Tự tánh bao hàm muôn pháp gọi Hằm tàng thức, nếu khởi suy lường tức thức chuyển sanh thành sáu biết, hiện hành nơi sáu căn nhận biết sáu trần, như vậy mười tám giới đều từ tự tánh khởi dụng. Tự tánh nếu tà thời khởi mười tám tà, tự tánh nếu chánh thời khởi mười tám chánh. Dụng tâm ác tức chung sanh dụng, dụng tâm thiện tức Phật dụng. Bởi dụng có khác nên tự tánh có các pháp đối.
Ngoại cảnh vô tình có năm đối: trời đối đất, mặt trời đối mặt trăng, sáng đối tôi, âm đôi dương, nước đôi lửa. Đây là năm đối.
Pháp tướng ngôn ngữ có mười hai đối: lời đối pháp, có đối không, hữu sắc đối vô sác, hữu tướng đối vô tướng, hữu lậu đối vô lậu, sắc đối không, động đối tịnh, trong đối đục, phàm đối thánh, tăng đôi tục, già đối trẻ, lớn đối nhỏ. Đây là mười hai đối.
Tự tánh khởi dụng có mười chín đối: dài đối ngắn, tà đối chánh, si đối huệ, ngu đối trí, loạn đối định, lành đối độc, giới đối phi giới, thẳng đối cong, thật đối hư, hiểm đối bình, phiền não đối Bồ-đề, thường đối vô thường, từ bi đối độc hại, mừng đối giận, bố thí đối bỏn xẻn, tinh tấn đối giải đãi, sanh đối diệt, pháp thân đối sắc thân, hóa thân đối báo thân. Đây là mười chín đối.
Tổ nói: Nếu hiểu ba mươi sáu pháp đối đây, dụng thời xuyên xuyết tất cả pháp, ra vào lìa hai bên. Tự tánh động dụng cùng người nói pháp, ngoài thì nơi tướng lìa tướng, trong thì nơi không lìa không. Nếu chấp tướng nuôi lớn tà kiến, nếu chấp không nuôi lớn vô minh. Người chấp không hay phỉ báng Kinh, thường nói chẳng dùng văn tự, đã nói chẳng dùng văn tự thì lời nói kia cũng chính là tướng văn tự. Lại nói trực chỉ Đạo chẳng lập văn tự, hai chữ “chẳng lập” cũng là văn tự, thấy người thuyết pháp lại phỉ báng họ đắm trước văn tự. Các ngươi phải biết tự mê còn khá, lại phỉ báng Kinh Phật, chẳng biết phỉ báng Kinh tội không thể kể xiết.
Nếu tham trước bên ngoài làm các pháp, hoặc mở rộng đạo tràng, nói các lỗi lầm của có không, người như thế lũy kiếp chẳng thể thấy tánh. Chỉ nghe y pháp tu hành, lại chớ trăm điều chẳng nghĩ mà ngăn ngại đạo tánh. Nếu nghe pháp chẳng tu, khiến người trở lại sanh tà niệm. Chỉ y pháp tu hành, pháp không trụ tướng bố thí. Các ngươi nếu ngộ, y đây thuyết, y đây dụng, y đây hành, y đây tác, thời chẳng mất bổn tông. Nếu có người hỏi nghĩa ngươi, hỏi có lấy không đối, hỏi không lấy có đối, hỏỉ phàm lấy thánh đối, hỏi thánh lấy phàm đối... Hai đường làm nhân cho nhau sanh nghĩa Trung đạo. Người một hỏi một đối, hỏi các điều khác y đây đáp, thời chẳng mất ý chỉ. Ví như có người hỏi: Thế nào là tối? Đáp: Sáng là nhân, tối là duyên, sáng chìm thời tối. Lấy sáng hiển tôi, lấy tối hiển sáng, đến đi làm nhân, thành nghĩa Trung đạo. Nếu hỏi khác cũng đều như thế đáp. Các ngươi về sau truyền pháp, y đây dạy trao, chớ mất tông chỉ.
Đầu niên hiệu Thái Cực Diên Hòa, tháng 7 năm Nhâm Tý, Tổ sai đệ tử qua chùa Quốc Ân xây tháp, đến mùa hạ năm sau hoàn thành.
Ngày mồng 1 tháng 7, Tổ nhóm chúng lại bảo: Đến tháng tám Ta muôn lìa thế gian, các ngươi có nghi sớm hỏi, Ta sẽ phá nghi khiến các ngươi hết mê. Ta đi rồi sau không người dạy.
Pháp Hải cùng Đại chúng nghe thày đều khóc rống, chỉ có Thần Hội thần tình bất động, cũng không buồn khóc.
Tổ khen: Chỉ có Thần Hội đạt được thiện bất thiện bình đẳng, khen chê không động, vui buồn không sanh. Còn các ngươi, bấy lâu nay ở núi tu cái đạo gì mà nay buồn khóc! Hay lo Ta chẳng biết chỗ đi? Chỗ đi Ta tự biết, nếu không sao dự báo cho các ngươi? Các ngươi buồn khóc mê muội, không biết chỗ Ta đi, nếu biết thời không có ưu bỉ khóc lóc. Pháp tánh vốn không sanh diệt đến đi. Các ngươi hãy ngồi xuống, nghe Ta nói kệ gọi là Chơn giả động tịnh kệ. Hãy giữ lấy mà tụng, cùng Ta một ý, y kệ đây tu không mất tông chỉ.
Chúng Tăng làm lễ thỉnh Tổ đọc kệ:
Tất cả đều không chơn
Chẳng cho thấy là chơn,
Nếu thấy cho là chơn
Thấy ấy thật không chơn.
Bằng muốn tự có chơn
Lìa giả tức là chơn,
Tự tâm không lìa giả
Không chơn, nơi nào chơn.
Hữu tình tức có động
Vô tình tức bất động,
Nếu tu hạnh bất động
Đồng vô tình bất động.
Muốn tìm chơn bất động
Nơi động có bất động,
Bất động là bất động
Vô tình không giống Phật
Khéo hay phân biệt tướng
Đệ nhất nghĩa bất động,
Chỉ như thấy đây dụng
Tức là chơn bất động.
Bảo cho người học đạo
Nỗ lực tu dụng ý,
Chớ ở cửa Đại thừa
Lại chấp trí tử sanh.
Nếu nhơn lời tương ưng
Tức cùng luận Phật nghĩa,
Nếu thật chẳng tương ưng
Chấp tay sanh hoan hỷ.
Tông này vốn không tranh
Tranh thời mất ý đạo,
Trái lại tranh pháp môn
Lìa tánh vào sanh tử.
Bấy giờ, chúng đệ tử nghe kệ xong thảy đều đảnh lễ, nắm giữ lời Tổ dạy, mỗi mỗi nhiếp tâm y pháp tu hành. Biết Tổ trụ thế không lâu, Thượng tọa Pháp Hải lễ lạy thưa: Sau khi Hòa thượng nhập diệt, y pháp nên giao phó cho ai?
Tổ bảo: Ta thuyết pháp ở chùa Đại Phạm đến nay, sao chép lại lấy tên “Pháp Bảo Đàn Kinh”. Các ngươi gìn giữ, hộ trì lẫn nhau, truyền dạy cho người, chỉ y pháp
Phần 2

đây gọi là Chánh pháp. Các ngươi đã đủ niềm tin, quyết chắc không nghi, kham nhận được việc lớn. Ta vì các ngươi nói pháp, y không giao phó. Xưa Tổ Đạt Ma có lời ký y chẳng hợp truyền, kệ rằng:
Ta đến đất nước này
Truyền pháp cứu mê tình,
Một hoa nở năm cánh
Kết quả tự nhiên thành.
Tổ lại nói: Các ngươi muốn thành tựu
chủng trí, phải tu đạt Nhất Tướng tam-muội, Nhất Hạnh tam-muội. Nếu ở tất cả chỗ mà chẳng trụ tướng, nơi tướng kia không sanh thương ghét cũng không lấy bỏ, chẳng nghĩ các việc thành hoại lợi ích thảy, an nhàn, điềm tĩnh, rỗng lặng, đạm bạc, đây gọi Nhất Tướng tam-muội. Nếu ở tất cả chỗ đi đứng nằm ngồi thuần một trực tâm, tức bất động đạo tràng, tức chân thật tịnh độ, đây gọi Nhất Hạnh tam-muội. Nếu người đủ hai tam-muội ấy, như đất sẵn có giống, nẩy mầm nuôi lớn đến khi trưởng thành, nhất tướng nhất hạnh cũng lại như thế. Ta nay thuyếp pháp cũng như trời mưa nhuần khắp đại địa, Phật tánh các ngươi ví như hạt giống, gặp trận mưa thảy đều phát sanh. Y lời Ta dạy thực hành, quyết định chứng được diệu quả Bồ-đề. Hãy nghe kệ Ta:
Đất tâm chứa các giống
Mưa khắp ắt nẩy mầm,
Đã đốn ngộ hoa mầu
Quả Bồ-đề tự thành.
Tổ thuyết kệ xong, nói: Pháp vốn không hai, tâm cũng thế. Đạo vốn thanh tịnh, cũng không các tướng. Các ngươi thận trọng chớ có quán tịnh cùng quán không, vì tâm vốn tịnh, không thể lấy bỏ. Các ngươi hãy nỗ lực, tùy duyên mà đi.
Bấy giờ đồ chúng lễ lạy mà lui.
Tháng 7 ngày mồng 8, Tổ bảo chúng đệ tử: Ta muốn về Tân Châu, các ngươi hãy chuẩn bị ghe chèo.
Đại chúng buồn tủi muốn giữ Tổ lại, Tổ bảo: Chư Phật ra đời còn thị hiện Niết-bàn. Có đến ắt có đi, lý thường là vậy. Vóc hình của Ta về đã có chỗ.
Chúng thưa: Thầy đi bao giờ trở lại?
Tổ bảo: Lá rụng về cội, trở lại không có ngày.
Lại hỏi: Chánh pháp nhãn tạng truyền cho người nào?
Tổ bảo: Người có đạo được, người vô tâm thông.
Lại thưa: Từ xưa đến nay chư Phật ứng hiện, truyền thọ bao nhiêu đời, nguyện Hòa thượng chỉ dạy.
Tổ bảo: Cổ Phật ứng hiện nơi đời vô lượng, không thể tính kể, nay kể lược bảy Đức Phật gần. Quá khứ Trang Nghiêm kiếp: Tỳ Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Tỳ Xá Phù Phật. Hiện tại Hiền kiếp: Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Văn Phật. Đó là bảy vị Phật.
Từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền xuống:
- Tôn giả Ma Ha Ca Diếp
- Tôn giả A Nan.
- Tôn giả Thương Na Hòa Tu.
- Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa.
- Tôn giả Đề Đa Ca.
- Tôn giả Di Giá Ca.
- Tôn giả Bà Tu Mật Đa.
- Tôn giả Phật Đà Nan Đề.
- Tôn giả Phục Đà Mật Đa.
- Hiếp Tôn Giả.
- Tôn giả Phú Na Dạ Xa.
- Mã Minh Đại Sĩ.
- Tôn giả Ca Tỳ Ma La.
- Long Thọ Đại Sĩ.
- Tôn giả Ca Na Đề Bà.
- Tôn giả La Hầu La Đa.
- Tôn giả Tăng Già Nan Đề.
- Tôn giả Già Da Xá Đa.
- Tôn giả Cưu Ma La Đa.
- Tôn giả Xà Dạ Đa.
- Tôn giả Bà Tu Bàn Đầu.
- Tôn giả Ma Noa La.
- Tôn giả Hạc Lặc Na. - - Tôn giả sư Tử.
- Tôn giả Bà Xá Tư Đa.
- Tôn giả Bất Như Mật Đa.
- Tôn giả Bát Nhã Đa La.
- Tôn giả Bồ Đề Đạt Ma.
Đất này thì có: Đại sư Huệ Khả, Đại sư Tăng Xán, Đại sư Đạo Tín, Đại sư Hoằng Nhân. Huệ năng là Tổ thứ Ba mươi ba. Từ trước chư Tổ đều có truyền thừa, các ngươi về sau thay nhau lưu truyền chớ để thất lạc.
Chúng hỏi: Từ nay về sau còn có nạn không?
Tổ bảo: Sau khi Ta diệt độ, sáu năm sau có người muốn lấy đầu Ta. Hãy nghe Ta truyền dạy:
Đầu dưỡng trên thân Miệng thời cần ăn
Gặp nạn của Mãn
Dương Liễu làm quan.
Niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, năm Quý Sửu ngày mồng 3 tháng 8, tại chùa Quốc Ân khi thọ trai xong, Tổ bảo: Các ngươi theo thứ tự ngồi xuống, Ta từ biệt các ngươi.
Pháp Hải bạch; Hòa thượng lưu pháp nào để khiến kẻ mê đời sau thấy được Phật tánh.
Tổ nói: Các ngươi lóng nghe. Kẻ mê đời sau nếu biết chúng sanh tức là biết Phật, không biết chúng sanh vạn kiếp tìm Phật khó gặp. Ta nay dạy các ngươi biết chúng sanh nơi tự tâm, thấy tánh Phật tại tâm.
Muốn cầu thấy Phật chỉ biết chúng sanh. Chúng sanh mê Phật, thật Phật nào mê chúng sanh. Nếu ngộ tự tánh, chúng sanh tức là Phật. Tự tánh nếu mê, Phật là chúng sanh. Tự tánh bình đẳng, chúng sanh là Phật. Tự tánh tà hiểm, Phật là chúng sanh. Nơi tâm xiểm khúc tức Phật ở trong chúng sanh, một niệm bình trực thời chúng sanh thành Phật. Tâm các ngươi là Phật, Phật nơi tự tâm là chơn Phật. Tự tâm nếu không Phật, cầu chơn Phật nơi nào? Tự tâm các ngươi là Phật, chớ có hồ nghi. Các pháp đều từ bổn tâm sanh, ngoài không một vật mà năng kiến lập chủng chủng pháp, nên Kinh dạy: “Tâm sanh chủng chủng pháp sanh, tâm diệt chủng chủng pháp diệt”.
Ta nay lưu bài kệ từ biệt cùng các ngươi, gọi Tự tánh chơn Phật kệ. Người đời sau biết y kệ đây, tự thấy bổn tâm, tự thành Phật đạo.
Kệ rằng:
Chơn như tự tánh là chơn Phật
Tà kiến ba độc là ma vương
Khi tà mê thời ma tại nhà
Lúc chánh kiến thời Phật hiện ra,
Tà kiến ba độc sanh trong tánh
Tức thì bị ma vương chiếm chỗ,
Khởi chánh kiến tiêu trừ ba độc

Phần 3

Ma biến thành Phật thật không giả,
Pháp thân, báo thân cùng hóa thân
Ba thân vốn thật chỉ một thân,
Nếu hướng trong tánh hằng tự thấy
Tức là nhơn Bồ-đề thành Phật.
Hóa thân vốn sanh từ tịnh tánh
Tịnh tánh thường ở trong hóa thân
Tánh khiến hóa thân hành Chánh đạo
Đương lai viên mãn chơn Phật Đà.
Dâm tánh vốn sanh từ tịnh tánh
Trừ dâm tức là tịnh tánh thân
Trong tánh ngươi tự lìa ngũ dục
Thấy tánh thành Phật tại sát-na.
Đời nay gặp được đốn giáo môn
Chợt ngộ tự tánh thấy Thế Tôn,
Nếu muốn tu hành cầu thành Phật
Không biết chỗ nào để cầu chơn
Chỉ ở tại lòng đó là chơn
Có chơn tức là nhơn thành Phật,
Chẳng thấy tự tánh, tìm Phật ngoài
Khởi tâm rong ruổi thảy si mê.
Nay đã lưu truyền phảp đốn giảo
Cứu độ người đời hãy tự tu,
Bảo người học đạo ở đời sau
Chẳng hành như thế lắm lo lo.
Tổ nói kệ xong, bảo Đại chúng: Sau khi Ta diệt độ, chớ theo thường tình ưu bi khóc lóc, làm ma chay, thọ người phúng điếu, thân mặc áo tang, làm như thế chẳng phải đệ tử Ta, cũng chẳng phải Chánh pháp. Chỉ tự biết bổn tâm, tự thấy bổn tánh, không động, không tịnh, không sanh, không diệt, không đến, không đi, không đúng, không sai, không còn, không mất. Sợ các ngươi tâm mê chẳng hiểu ý Ta, nay dặn lại các ngươi, khiến các ngươi thấy tánh. Sau khi Ta diệt độ, y đây tu hành như Ta tại thế, nếu trái lời Ta dạy, dẫu Ta ờ đời cũng chẳng ích chi.
Lại thuyết kệ rằng:
Trơ trơ không tu thiện
Hoành hoành chẳng tạo ác
Lặng lặng dứt thấy nghe
Diệu diệu tâm không nhiễm.
Tổ thuyết kệ rồi ngồi yên đến canh ba. Chợt nói đồ chúng: “Ta đi”, rồi im lặng thị tịch.
Bấy giờ mùi hương lạ bay khắp, cầu vồng trắng phủ đất, cây biến thành màu trắng, cầm thú kêu tiếng bi ai.
Tháng 11, quan liêu ở Quảng Châu, Thiều Châu, Tân Châu cùng đệ tử tranh nhau cung nghinh nhục thân Tổ, không biết đem về đâu, bèn đốt hương nguyện khói hương bay về đâu thì nhục thân Tổ về đó. Khi ấy khói hương bay thẳng đến Tào Khê.
Ngày 13 tháng 11 thỉnh nhục thân Tổ cùng Y Bát về Tào Khê.
Năm sau, ngày 25 tháng 7, khi nhập tháp, đệ tử Phương Biện dùng bột hương đắp lên nhục thân Tổ. Nhớ lời Tổ huyền ký nên lấy sắt lá quấn quanh cổ, cử người giữ tháp. Lúc ấy trong tháp có hào quang trắng xuất hiện xông thẳng lên trời, đến ba ngày mới hết.
Quan Thiều Châu phụng sắc chỉ Vua, lập bia ghi đạo hạnh của Tổ: “Tổ trụ thế bảy mươi sáu năm, hai mươi bốn tuổi được truyền y bát, ba mươi chín tuổi thế phát, ba mươi bảy năm thuyết pháp lợi sanh. Bốn mươi ba người nối pháp, người ngộ đạo siêu phàm vô số. Y bát của Tổ Đạt Ma truyền, y bát do vua Trung Tông ban, chân tượng Tổ do Phương Biện tạc cùng các khí cụ khác đều nhập tháp tại đạo tràng chùa Bảo Lâm, có người canh giữ. Lưu truyền Kinh Pháp Bảo Đàn nói rõ tông chỉ của Tổ, nối thạnh giếng Phật, rộng cứu quần sanh”.

Phần 4

Phụ Lục
Linh Thao (người giữ Tháp) ghi
Sau khi Tổ nhập tháp, đến niên hiệu Khai Nguyên thứ mười, năm Nhâm Tuất, nửa đêm mồng 3 tháng 8 bỗng nghe trong tháp có tiếng dây sắt kêu. Chúng Tăng thức dậy, thấy một người mặc đồ tang từ trong tháp chạy ra. Tìm thấy trên cổ Tổ cồ dấu chặt, biết đó là kẻ gian, bèn viết sớ trình châu huyện.
Huyện cử Dương Khản và Liễu Vô Thiểm điều tra. Đến ngày mùng 5 bắt được kẻ trộm tại thôn Thạch Giác đem về Thiều Châu, khai rằng: “Tôi tên Trương Tịnh Mãn ở huyện Lương, Nhữ Châu. Tại chùa Khai Nguyên, Hồng Châu, tôi có nhận của Kim Đại Bi người Tân La hai mươi ngàn quan tiền, lấy trộm đầu Lục Tổ về Hải Đông để cúng dường.
Liễu nghe cáo trạng xong chưa vội gia hình, đích thân đến Tào Khê hỏi vị Thượng túc là Linh Thao rằng: “Tội như vậy xử thế nào?" Linh Thao nói: “Nếu lấy phép nước mà nói thì tội đáng chết, nhưng Phật dạy lấy từ bi làm gốc, đối kẻ oán người thân hình đẳng, huống kia vì muốn lấy để cúng dường. Đây là việc làm lầm lạc, tội cũng đáng tha". Liễu Thái thú nghe Linh Thao nói, hết lòng kính phục, khen rằng: “Quả nhiên, như thế mới biết cửa Phật từ bi rộng lớn vô cùng". Bèn tha cho kẻ gian.
Thượng Nguyên năm đầu, vua Túc Tông sai Sử quan xin thỉnh y bát của Lục Tổ về cung để thờ. Đến năm đầu niên hiệu Vĩnh Thái, Túc Tông nằm mộng thấy Đại sư Lục Tổ về thỉnh y bát. Ngày mùng 7 tháng 7, Vua bảo Thái sử Dương Hàm rằng: “Trẫm mộng thấy Huệ Năng thiền sư đến thỉnh y bát của Ngài về lại Tào Khê. Nay đề cử quan Trấn quốc đại tướng Lương Sùng Cảnh cung thỉnh y bát của Tổ về Tào Khê, như pháp an trí, truyền chư Tăng hết lòng thủ hộ chớ để thất lạc". (Về sau, y bát của Tổ đã bốn lần bị trộm lấy, nhưng đều tìm được)
Vua Hiến Tông phong hiệu là “Đại Giám Thiền Sư”, tháp hiệu “Nguyên Hòa Linh Chiếu".
Ngoài sự tích kể trên, còn có các sự tích của Đức Lục Tổ do Thượng thư Vương Duy, Thứ sử Liễu Tông Nguyên, Thứ sử Lưu Vũ Tích chép lại.
Sự TÍCH LỤC TỔ ĐẠI SƯ (lược)
Đại Sư tên Huệ Năng, cha là Lư Hành Dao, bị cách chức ở Tân Châu, mẹ là Lý thị. Đời Đường niên hiệu Võ Đức thứ 3, tháng 9, trước khi thọ thai Lý thị nằm mộng thấy trước sân hoa trắng nở rộ, một đôi bạch hạc cùng mùi hương lạ bay đầy nhà, từ đó trai giới thanh tịnh.
Ngài ở trong thai sáu năm mới sinh, nhằm giờ Tý ngày 8 tháng 2 năm Mậu Tuất, thuộc niên hiệu Trinh Quán thứ 12 đời Đường. Khi Ngài ra đời, hào quang xuất hiện trên không, hương thơm ngào ngạt. Rạng sáng, có hai vị Tăng đến nói với cha Ngài: Trẻ sơ sinh đêm qua nên đặt tên là Huệ Năng.
Cha Ngài hỏỉ: Sao đặt tên là Huệ Năng? Tăng đáp: “Huệ” là đem pháp trí huệ tế độ quần sanh, “Năng” là năng làm việc Phật. Nói xong rồi đi.
Ngài sinh ra đời chẳng bú sữa mẹ, mỗi đêm thần nhân cho uống cam lồ. Ngàỉ được 3 tuổi thì cha mất, mẹ thủ tiết nuôi Ngài. Ngài lớn lên nuôỉ mẹ, đến năm 24 tuổi nhơn nghe Kinh rõ đạo, bèn tìm đên Hoàng Mai lễ lạy Ngũ Tổ, được truyền y bát làm Tổ thứ Sáu. Bấy giờ là đầu niên hiệu Long Sóc, năm Tân Dậu, Ngài về phương Nam lánh nạn.
Đến đầu niên hiệu Nghi Phụng, ngày mùng 8 tháng giêng năm Bính Tý, gặp Ấn Tông pháp sư cật vấn nghĩa huyền, Ấn Tông khế ngộ Tông chỉ. Ngày rằm tháng giêng, Ấn Tông thông báo bốn chúng, vì Ngài thế phát. Ngày mùng 8 tháng 2 vân tập chư Tăng danh đức truyền Cụ túc giới:
- Ngài Trí Quang Luật sư ở Tây Kinh làm Truyền giới sư.
Lương đầu niên hiệu Thiên Giám năm Nhâm Ngọ đến đầu niên hiệu Nghi Phụng đời Đường năm Bính Tý được 175 năm)
Mùa xuân năm sau, Tổ từ giã chúng về chùa Bảo Lâm. Ân Tông cùng các vị xuất gia hơn ngàn người tiễn Tổ đến Tào Khê. Bấy giờ ở Kinh Châu ngàỉ Thông ứng Luật sư cùng học nhơn vài trăm người nương Tổ ở.
Tổ đến Tào Khê chùa Bảo Lâm thấy đất chật hẹp, không thể dung nạp đồ chúng, bèn đến nói với chủ đât Trần Á Tiên: Lão tăng muôn đến đàn việt xin mảnh đất trải tọa cụ, có hoan hỷ chăng?
Tiên nói: Tọa cụ Hòa thượng rộng khoảng bao nhiêu?
Tổ đưa tọa cụ, Á Tiên xem xong nhận lời. Tổ lấy tọa cụ trải ra, trùm khắp đất bốn phía của Tào Khê, lạỉ có bốn vị Thiên vương hiện thân trấn giữ bốn phương. (Hiện nay ở chùa có dãy núi Thiên Vương là từ tích ấy)
Tiên nói: Con biết Hòa thượng pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, nhưng phần mộ của tổ tiên con đều ở trên đất này, xin để lại phần đất đã kiến tạo mộ phần ông bà, các phần đất còn lại xin hỷ cúng để xây dựng Tam Bảo. Đất này sanh long bạch tượng kết mạch, chỉ bình thiên chẳng nên bình địa. (Về sau chùa kiến tạo đều như lời nói trước)
Mỗi lần Tổ dạo chơi ngắm cảnh, gặp chỗ sơn thủy tốt đẹp thời dừng chân nghỉ. Những chỗ ấy sau thành A Lan Nhã, cả thảy mười ba ngôi, nay gọi là "Hoa Quả Viện”, tất cả đều thuộc Tam Bảo.
Chùa Bảo Lâm xưa là do ngài Trí Dược Tam Tạng ở Tây Trúc từ Nam Hải vào, khi qua cửa Tào Khê múc nước uống thấy vị nước thơm khác thường, bảo đệ tử: "Vị nước này giống như vị nước ở Tây Thiên không khác!” Lần theo dòng nước lên tận đầu nguồn, thấy bốn bề núi cao gió mát đoanh vây tốt đẹp, nói địa thế đây giống núi Bảo Lâm bên Tây Thiên. Ngài bảo dân chúng thôn Tào Hầu: "Núi này nên xây dựng một ngôi chùa, một trăm bảy mươi năm sau Pháp Bảo vô thượng sẽ xiển dương tại đây, người đác đạo như rừng, nên đặt hiệu là Bảo Lâm”. Bấy giờ, quan Thiều Châu là Mục Hầu Kính, theo lời tiên tri viết biểu trình Vua. Vua sắc chỉ xây chùa, lấy hiệu Bảo Lâm, nhằm niên hiệu Thiên Giám thứ ba đời Lương.
Trước chùa có một cáỉ đầm rộng, rồng thường xuất hiện, mỗi khi xuất hiện rung chuyển núi rừng. Một hôm, rồng hiện hình rất lớn, sóng vỗ cao vọt, mây đen mịt mù vây phủ, đồ chứng kinh hãi. Tổ nạt rồng: "Ngươi chỉ hiện được thân lớn mà chẳng hiện được thân nhỏ. Nếu là thần long, thì nhỏ lớn hiện được, biến hóa được”. Rồng chợt lặn mất, giây lâu lại hiện thân nhỏ nổi trên mặt nước. Tổ mở nắp bình bát, nói: “Ngươi chẳng dám vào bát lão Tăng”. Dứt lời, rồng liền bơi đến trước mặt Tổ, Tổ đưa bát hứng rồng, rồng không nhúc nhích được. Tổ đem về chùa thuyết pháp, rồng thoát xác mà đi. Bộ xương dài bảy tấc đủ đầu sừng đuôi chân được lưu giữ tại chùa, về sau Tổ cho lấp đầm. Nay ở trước chùa về phía bên trái có tháp sắt, là đầm rồng khi xưa.
Tổ có một viên đá trừ yêu, khắc “Long Sóc nguyên niên, Lư cư sĩ chí”, đá để ở chùa Đông Thiền, Hoàng Mai. Đến đời Minh niên hiệu Gia Tĩnh, có người ở Việt Trung đến thỉnh về Tào Khê.
Đời Đường, Thừa tướng vương Duy thỉnh Đại sư Thần Hội làm bài kỷ niệm Tổ! “Lục Tổ chung sống với thợ săn 16 năm, gặp hội Ấn Tông giảng kinh mới xuống tóc”.
Quan Thứ sử Liễu Tông Nguyên khắc bia kỷ niệm: “Tổ thọ y bát, ẩn dật Nam Hải 16 năm, thấy cơ duyên hoằng pháp đã đến, nên về Tào Khê thâu nhận đồ chúng”.
Quan Thừa tướng Trương Thương Anh viết bài kỷ niệm Ngũ Tổ: “Ngũ Tổ hoằng pháp tại chùa Đông Thiền, Hoàng Mai. Vì muốn hiếu dưỡng mẹ già nên niên hiệu Long Sóc năm đầu, sau khi truyền y bát cho Lục Tổ Huệ Năng, giải tán đồ chúng, cất am ở Đông Sơn, có Phùng Mậu cúng núi ấy cho Ngài làm Đạo tràng”.
( Theo các lý do trên thời Tổ đến Hoàng Mai được Ngũ Tổ truyền thọ y bát từ năm đầu niên hiệu Long Sóc năm Tân Dậu, đến niên hiệu Nghi Phụng năm Bính Tý, trọn 16 năm Tổ mới đến chùa Pháp Tánh xuống tóc )

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục