KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI SÁU
06/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI SÁU Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM LƯỠNG BẤT HÒA HIỆP QUÁ THỨ BỐN MƯƠI BẢY Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Người thính pháp nơi Bát nhã...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI SÁU
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM LƯỠNG BẤT HÒA HIỆP QUÁ THỨ BỐN MƯƠI BẢY
Người thuyết pháp tâm chẳng lười biếng mà người nghe pháp chẳng chịu nghe lãnh, tâm hai bên chẳng hòa hợp, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thính pháp muốn biên chép đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật mà người thuyết pháp muốn đi qua phương khác, phải biết đây cũng là ma sự của Bồ Tát.
Người thuyết pháp muốn cho biên chép, thọ trì mà người thích pháp muốn đi qua phương khác, tâm hai bên chằng hòa hợp, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp quý trọng của bố thí, những y phục, thực phẩm, phòng nhà, thuốc men, người thính pháp thiểu dục tri túc, nhiếp niệm tinh tấn, thiền định, trí tuệ, tâm hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Người thuyết pháp thiểu dục tri túc, nhiếp niệm tinh tấn, thiền định, trí huệ, người thính pháp quý trọng của bố thí, những tứ sự tư sinh, tâm hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp thọ mười hai hạnh Đàu Đà: một là thường là thường khất thực, hai là thứ đệ khất thực, ba là nhất tọa thực, bốn là tiết lượng thực, năm là sau ngọ trung chẳng ẩm tương, sáu là chỉ chứa ba y bảy là nạp ỵ, tám là ở a lan nhã, chín là ở trong gò mã, mười là ở gốc cây, mười một là ở đất trống, mười hai là ngồi luôn không nằm, người thính pháp chẳng thọ mười hai hạnh Đầu Đà, hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Người thính pháp thọ mười hai hạnh Đầu Đà, người thuyết pháp chẳng thọ mười hai hạnh Đầu Đà, hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp có tín tâm, có giới hạnh, muốn biên chép, thọ trì Bát nhã ba la mật nhẫn đến chính ức niệm, người thính pháp không tín tâm, không giới hạnh, chẳng muốn biên chép nhẫn đến chẳng muốn chính ức niệm Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Người thính pháp có tín tâm, có giới hạnh, người thuyết pháp không tín tâm, không giới hạnh, hai bên chẳng hòa hợp, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết hay bố thí tất cả chẳng lẫn tiếc, người thính pháp bỏn xẻn, chẳng thí xả, hai bên chẳng hòa họp, phải biết đây là ma sự.
Người thính pháp hay bố thí tất cả chẳng lẫn tiếc, người thuyết pháp bỏn xẻn, chẳng thí xả, hai bên chẳng hòa hợp, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thích pháp muốn cúng dường cho người thuyết pháp những đồ vật tư sinh, người thuyết pháp chẳng chịu nhận, phải biết đây là ma sự.
Người thuyết pháp muốn cung cấp đồ tư sinh cho người thính pháp, người thính pháp chẳng chịu nhận, hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp dễ tỏ ngộ, người thuyết pháp ám độn, phải biết đây là ma sự.
Người thính pháp mau tỏ ngộ, người thính pháp ám độn, hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được, nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự, Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp biết nghĩa thứ lớp của mười hai bộ kinh là khế kinh nhẫn đến luận nghị, người thính pháp chẳng biết Hoặc người thính pháp biết nghĩa thứ đệ của mười hai bộ kinh, người thuyết pháp chẳng biết, hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp thành tựu sáu ba la mật, người thính pháp chẳng thành tựu. Hoặc người thính pháp có sáu ba la mật, người thuyết pháp chẳng có. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp có sức phương tiện nơi sáu ba la mật, người thính pháp không có. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp đắc đà la ni, người thính pháp không đắc. Hoặc người thính pháp đắc đà la ni, người thuyết pháp không đắc. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn cho biên chép nhẫn đến chính ửc niệm Bát nhã ba la mật, người thính pháp chẳng muốn. Hoặc người thính pháp muốn biên chép nhẫn đến chính ức niệm, người thuyết pháp chẳng muốn biên chép nhẫn đến chẳng muốn cho chính ức niệm Bát nhã ba la mật, hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp không tham dục, giận hờn, ngủ nghỉ, điệu hối, nghi ngờ, người thính pháp có tham dục nhẫn đến nghi ngờ. Hoặc người thính pháp lìa ngũ cái: tham dục nhẫn đến nghi ngờ, người thuyết pháp có ngũ cái. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Lúc biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật, có người đến nói những sự thống khổ trong ba ác đạo rồi bảo rằng sao Ngài chẳng ở tại thân đời này dứt khổ nhập Niết Bàn, lại cầu Vô thượng Bồ đề làm chi?
Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Lúc biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật, có người đến ca ngợi các cõi Trời, ca ngợi Trời Tứ Thiên Vương đến Trời Phi Phi Tưởng, ca ngợi sơ thiền đến phi phi tưởng định rồi bảo rằng: Thưa Ngài, ba cõi dầu hướng thọ phước vui nhưng cũng đều là vô thường, là khổ không, vô ngã, tướng biến tận tán ly. Sao ngài chẳng ở tại thân đời này chứng quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, lại ở trong thế gian sinh tử chịu khổ để cầu Vô thượng Bồ đề làm chi? Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp một thân không phiền lụy, tự tại vô ngại, người thính pháp dắt theo chúng nhân đông, hoặc người thính pháp một thân không phiền lụy, tự tại vô ngại, người thuyết pháp, hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp bảo người thính pháp rằng nếu ngươi có thể tùy theo ý ta, thời sẽ cho người biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật, bằng không tùy theo ý ta, thời không cho. Hai bên chẳng hòa hợp, chằng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thính pháp muốn thuận theo ý người thuyết pháp mà người thuyết pháp chẳng cho, hai bên chằng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự. Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp vì muốn được tài lợi mà cho biên chép nhẫn đến cho chính ức niệm Bát nhã ba la mật, người thính pháp vì cớ này nên chẳng chịu theo nghe. Hoặc người thính pháp vì tài lợi mà muốn biên chép nhẫn đến muốn chính ức niệm Bát nhã ba la mật, vì cớ này nên người thuyết pháp chẳng muốn cho. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn đến xứ nguy nạn, người thính pháp chẳng muốn đi theo. Hoặc người thính pháp muốn đến xứ nguy nạn, người thuyết pháp chẳng muốn đến. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn đến xứ giàu vui, người thính pháp muốn đi theo. Người thuyết pháp bảo rằng ngươi vì tài lợi mà đi theo ta, ngươi nên suy nghĩ kỹ, hoặc được tài lợi hoặc chẳng được, chớ để ngày sau ăn năn, người thính pháp nghe nói cho rằng không muốn mình đi theo nên sinh lòng chán mà không đi. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn đến xứ hoang vắng có nạn giặc cướp, ác thú, độc trùng, người thính pháp muốn đi theo.
Người thuyết pháp bảo rằng ngươi đến xứ hoang vắng hiểm nạn làm chi. Người thính pháp nghe nói cho rằng không muốn cho mình biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật, sinh lòng chán chẳng đi theo. Hai bên chẳng hòa hợp, đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp có nhiều thí chủ, thường đến nhà họ viếng thăm, bảo người thính pháp rằng ta có việc phải đến nhà họ. Người thính pháp biết ý bèn chẳng cùng đi. Hai bên chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma làm Tỳ Kheo đến chỗ thiện nam, thiện nữ dùng phưưng tiện phá hoại chẳng cho biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Ác ma làm Tỳ Kheo dùng cách nào để phá hoại?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Ác ma làm Tỳ Kheo đến chỗ thiện nam, thiện nữ mà bảo rằng kinh của ta nói mới là Bát nhã ba la mật, còn kinh đó không phải. Lúc ác ma dùng lời phá hoại tín tâm như vậy, có thiện nam, thiện nữ chưa được thọ ký bèn sinh lòng nghi, vì nghi nên chẳng biên chép nhẫn đến chẳng chính ức niệm Bát nhã ba la mật. Chẳng hòa hợp, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma làm Tỳ kheo đến bảo rằng Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật, chứng thật tế được quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến quả Bích Chi Phật. Do đó mà chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Này Tu Bồ Đề! Lúc nói Bát nhã ba la mật sâu xa này, có nhiều ma sự khởi lên làm trở ngại. Đại Bồ Tát phải sớm biết đế xa lìa".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những ma sự gì làm trở ngại Bát nhã ba la mật mà Bồ Tát phải sớm biết để xa lìa?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Tương tự Bát nhã ba la mật nhẫn đến Đàn na ba la mật là ma sự phát khởi. Bồ Tát phải sớm biết để xa lìa.
Lại này Tu Bồ Đề! Những kinh sở hành của hàng Thanh văn, Bích Chi Phật là ma sự của Bồ Tát, phải sớm hay biết xa lìa.
Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma làm Tỳ Kheo tìm phương tiện trao cho Bồ Tát những kinh dạy về nội không, ngoại không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không, dạy về tứ niệm xứ nhẫn đến bát chính đạo, ba môn giải thoát, không, vô tướng, vô tác để được quả Tu Đà Hoàn đến quả Bích Chi Phật. Do đó chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma do hóa làm Phật thân vàng trượng lục chói sáng đến chỗ Bồ Tát. Vì ham thích thân Phật này mà Bồ Tát hao tổn chính trí huệ. Do đó chẳng hòa hợp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma hóa làm Phật và chúng Tỳ Kheo đến chỗ Bồ Tát. Các Tỳ Kheo này nói pháp cho Bồ Tát Bồ Tát ham thích tự nghĩ rằng đời sau tôi cũng sẽ được như vậy. Vì ham thích thân ma mà hao tổn chính trí huệ, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma hóa làm vô số Bồ Tát thật hành sáu ba la mật, chỉ dạy cho thiện nam, thiện nữ. Vì ham thích mà thiện nam, thiện nữ hao tổn chính trí huệ, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chính ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa này không có sắc thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến không có nhất thiết chủng trí.
Này Tu Bồ Đề! Vì không có sắc nhẫn đến không có nhất thiết chủng trí, nên trong Bát nhã ba la mật sâu xa này không có Phật, không có Bồ Tát, Thanh văn, Bích Chi Phật. Tại sao vậy? Vì tất cả pháp tự tính không vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Như vàng bạc châu ngọc ở Diềm Phù Đề có nhiều nạn, nhiều cướp. Cũng vậy, lúc thiện nam, thiện nữ biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật phát khởi nhiều nạn, nhiều oán".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đúng như vậy. Vàng bạc châu ngọc trong Diêm Phù Đề có nhiều nạn, nhiều cướp. Lúc thiện nam, thiện nữ biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật phát khởi nhiều nạn, nhiều oán, nhiêu ma sự.
Tại sao vậy? Hạng người ngu si bị ma sai sử mà phá hoại, xa lìa công việc biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa.
Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ ngu si ít trí ít huệ này lúc biên chép nhẫn đến lúc chính ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa lại phá hoại, xa lìa.
Bạch đức Thế Tôn! Hạng người ngu si này lòng họ chẳng thích pháp Đại thừa nên họ chẳng biên chép, đọc tụng, thọ trì, chính ức niệm, chẳng tu hành đúng như lời, họ lại phá hoại người khác chẳng cho biên chép nhẫn đến chính ức niệm".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Đúng vậy. Hàng thiện nam, thiện nữ mới phát tâm thừa vì bị ma sai sử, chẳng gieo căn lành, chẳng cúng dường chư Phật, chẳng theo thiện tri thức nên chẳng biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật mà lại làm sự lưu nạn.
Này Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ hay biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa này thì ma sự chẳng phát khỏi. Người này đầy đủ Thiền na ba la mật nhẫn đến Đàn na ba la mật, đầy đủ được tứ niệm xứ nhẫn đến nhất thiết chủng trí.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết đó là do Phật lực nên thiện nam, thiện nữ ấy có thể biên chép được nhẫn đến chính ức niệm được Bát nhã ba la mật sâu xa này, cũng đăy đủ được Thiền na ba la mật nhẫn đến Đàn na ba la mật, đầy đủ được nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không, đày đủ được tứ niệm xứ nhẫn đến nhất thiết chủng trí.
Này Tu Bồ Đề! Hiện tại mười phương vô lượng vô biên vô số chư Phật, chư đại Bồ Tát bất thối chuyển cũng trợ giúp ủng hộ cho thiện nam, thiện nữ này biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa”.
PHẨM PHẬT MẪU THỨ BỐN MƯƠI TÁM
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Ví như bà mẹ có con trai, hoặc năm hoặc mười hoặc trăm ngàn người con trai. Bà mẹ phải bệnh, các con đều lo buồn cần cầu cứu chữa, vì nhớ ơn mẹ sinh dục và dạy dỗ mình.Cũng vậy, này Tu Bồ Đề! Phật và chư Phật hiện tại mười phương đều thường dùng Phật nhãn nhìn Bát nhã ba la mật sâu xa này.
Tại sao vậy?
Vì Bát nhã ba la mật sâu xa này hay hiển thị tướng thế gian, hay xuất sinh chư Phật, hay cho nhất thiết chủng trí, cũng hay sinh Thiền ba la mật nhẫn đến Đàn na ba la mật, hay sinh nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không, hay sinh tứ niệm xứ nhẫn đến nhất thiết chủng trí, hay sinh Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, hay sinh chư Phật.
Này Tu Bồ Đề! Chư Phật đã được Vô thượng Bồ đề, chư Phật hiện nay được cùng chư Phật sẽ được đều do Bát nhã ba la mật sâu xa này mà được.
Này Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo nên biên chép nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa này. Chư Phật thường dùng Phật nhãn nhìn người này, gia hộ cho họ được chẳng thối chuyển Vô thượng Chính giác”.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Như lời đức Phật dạy, Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật? Hay hiển thị tướng thế gian? Thế nào là chư Phật từ Bát nhã ba la mật sinh? Chư Phật nói tướng thế gian như thế nào?
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Trong Bát nhã ba la mật sâu xa này xuất sinh mười trí lực nhẫn đến nhất thiết chủng trí. Vì được các pháp trên đây mà gọi là Phật, nên Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật.
Này Tu Bồ Đề! "Chư Phật nói ngũ ấm là tướng thế gian".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn!
Thế nào là trong Bát nhã ba la mật nói ngũ ấm?
Thế nào là trong Bát nhã ba la mật hiển thị tướng ngũ ấm?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Bát nhã ba la mật chằng hiển thị ngũ ấm phá, chẳng hiển thị ngũ ấm hoại, chẳng hiển thị sinh, diệt, cấu, tịnh, tăng, giảm, chẳng hiện thị xuất, nhập, chằng hiện thị quá khứ, vị lai, hiện tại.
Tại sao vậy?
Vì tướng không chẳng phá chằng hoại. Vì tướng vô tướng chẳng phá chẳng hoại. Vì tướng vô tác chẳng phá chẳng hoại. Vì pháp bất khởi, pháp bất sinh, pháp vô sở hữu, pháp tính chẳng phá chằng hoại. Vì tướng hiển thị như vậy nên Phật nói Bát nhã ba la mật sâu xa hay hiển thị tướng thế gian.
Lại này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà chư Phật biết rõ tâm niệm của vô lượng vô biên vô số chúng sinh.
Này Tu Bồ Đề! Trong Bát nhã ba la mật sâu xa này không chúng sinh, không danh từ chúng sinh, không sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không danh từ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn đến không nhất thiết chủng trí, không danh từ nhất thiết chủng trí. Thế nên Bát nhã ba la mật sâu xa này hay hiển thị tướng thế gian.
Này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật sâu xa này chẳng hiển thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn đến chẳng hiển thị nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa này còn không Bát nhã ba la mật huống là sắc nhẫn đến nhất thiết chủng trí.
Lại này Tu Bồ Đề! Có bao nhiêu danh số chúng sinh hoặc loài có sắc hay không sắc, có tướng hay không tướng, hoặc chẳng phải có tướng, chẳng phải không tướng, ở quốc độ này nhẫn đến khắp quốc độ mười phương. Những chúng sinh ấy hoặc nhiếp tâm, đức Phật đều biết thật rõ tất cả tâm niệm của họ.
Do đâu mà đức Phật biết thật rõ tướng dạng tâm niệm của chúng sinh?
Vì đức Phật dùng pháp tướng nên biết rõ.
Dùng pháp tướng gì để biết?
Này Tu Bồ Đề! Trong pháp tướng này còn không có tướng pháp tướng huống là nhiếp tâm với loạn tâm. Vì dùng pháp tướng này mà đức Phật biết rõ nhiếp tâm, loạn tâm của tất cả chúng sinh.
Lại này Tu Bồ Đề! Đức Phật biết thiệt rõ nhiếp tâm, loạn tâm của chúng sinh.
Do đâu mà biết?
Vì do tận tướng nên biết, do vô nhiễm tướng nên biết, do diệt tướng nên biết, do đoạn tướng nên biết, do tịch tướng nên biết, do ly tướng nên biết. Đức Phật do nơi Bát nhã ba la mật mà biết rõ nhiếp tâm, loạn tâm của tất cả chúng sinh.
Lại này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thật rõ nhiễm tâm của chúng sinh, biết thật rõ sân tâm, si tâm cùa chúng sinh, nếu chúng sinh có nhiễm tâm, sân tâm, si tâm.
Tại sao đức Phật biết thật rõ như vậy? Này Tu Bồ Đề! Vì thật tướng của nhiễm tâm không có tướng nhiễm, vì thật tướng của sân tâm, si tâm không có tướng sân, không có tướng si.
Tại sao vậy? Vì trong thật tướng không có tâm vương, tâm sở, huống là có được nhiễm tâm, sân tâm, si tâm, huống là có được tâm chẳng nhiễm, chẳng sân, chẳng si.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thật rõ tâm nhiễm, tâm sân, tâm si của tất cả chúng sinh.
Lại này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thật rõ tâm không nhiễm, không sân, không si của tất cả chúng sinh nếu chúng sinh không tâm nhiễm sân, si.
Tại sao vậy? Vì trong tâm không nhiễm, không sân, không si này chẳng có tướng nhiễm, sân, si. Vì hai tâm chẳng cùng chung vậy. Thế nên, này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết rõ tâm không nhiễm, sân, si của chúng sinh nếu có chúng sinh không có tâm nhiễm sân, si.
Lại này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật, nếu chúng sinh có quảng tâm, đức Phật biết thiệt rõ quảng tâm của chúng sinh.
Tại sao vậy? Vì đức Phật biết tâm tướng của chúng sinh chẳng rộng, chẳng hẹp, chẳng tăng, chẳng giảm, chẳng đến, chằng đi, vì tâm tướng rời Lìa, vì tâm tính vốn không nên không có gì làm rộng, làm hẹp, làm tăng, làm giảm, chẳng đến, chẳng đi.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thiệt rõ đại tâm cùa chúng sinh. Tại sao vậy? Vì đức Phật chẳng thấy tâm chúng sinh có tướng lai, tướng khứ, tướng sinh, trụ, dị, diệt. Tại sao vậy? Vì tâm tính vốn không nên không có ai đến, đi, không có sinh, trụ, dị, diệt.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Nếu chúng sinh có đại tâm, do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thiệt rõ đại tâm của chúng sinh.
Lại này Tu Bồ Đề! Nếu chúng sinh có tâm vô lượng, do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thật rõ tâm vô lượng của chúng sinh. Tại sao vậy? Vì do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết rõ tâm ấy của chúng sinh; chẳng thấy an trụ, chẳng thấy chẳng an trụ. Vì tướng của tâm vô lượng không chỗ y chỉ, nào có chỗ trụ, chẳng trụ.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Chúng sinh có tâm vô lượng, do Bát nhã ba la mật mà đức Pbật biết thiệt rõ tâm vô lượng ấy.
Lại này Tu Bồ Đề! Tâm chẳng thể thấy được của chúng sinh, do Bát nhã ba la mật đức Phật biết thật rõ tâm chẳng thể thấy được ấy. Tại sao vậy? Vì tâm chúng sính là vô tướng vì tự tướng vốn không, đức Phật biết thật rõ Vô tướng. Tâm của chúng sinh cả ngũ nhãn đều không thấy được.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Tâm chẳng thế thấy được của chúng sinh, do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thật rõ tâm chẳng thể thấy được ấy.
Lại này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật, những tâm số xuất một co giãn của chúng sinh, đức Phật biết thực rõ. Tại sao vậy? Vì tất cả tâm số xuất một co giãn của chúng sinh đều y cứ nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà sinh khởi. Ở trong ấy, đức Phật biết rõ tâm số xuất một co giãn của chúng sinh. Đó là thần và thế gian thường, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai Kiến thức này y cứ nơi sắc thần và thế gian vô thường, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai. Kiến thức này y cứ nơi sắc thân và thế gian cũng thường cũng vô thường, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai. Kiến thức này y cứ nơi sắc thần và thế gian chẳng thường chẳng vô thường, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai. Kiến thức này y cứ nơi sắc thần và thế gian thường, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai.
Như kiến thức này y cứ nơi sắc, kiến này y cứ nơi thọ, y cứ nơi tưởng, y cứ nơi hành, y cứ nơi thức cũng như vậy.
Kiến thức này y cứ nơi sắc và thế gian hữu biên, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai. Kiến thức này y cứ nơi sắc và thế gian vô biên, đây lá sự thật, ngoài ra là nói sai. Kiến thức này cứ nơi sắc và thế gian cũng hữu biên cũng vô biên, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai. Kiến thức này y cứ nơi sắc và thế gian chẳng hữu biên chẳng vô biên, đây là sự thật, ngoài ra là nói sai.
Như y cứ nơi sắc, kiến thức này y cứ nơi thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Thần chính là thân.
Kiến thức này y cứ nơi sắc thần khác thân khác, y cứ nơi thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Như y cứ nơi sắc, y cứ nơi thọ, tưởng hành, thức cũng như vậy.
Thế nên, Này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thật rõ những tâm số xuất một co giãn của chúng sinh.
Lại này Tu Bồ Đề! Đức Phật biết rõ sắc tướng. Biết rõ sắc tướng thế nào? Như là như tướng: chẳng hoại, không phân biệt, không tướng, không nhớ ghi, không hí luận, không được, sắc tướng sắc tướng cũng như vậy, cũng chẳng hoại nhẫn đến cũng không được.
Này Tu Bồ Đề! Đức Phật biết rõ thọ tướng nhẫn đến biết rõ thức tướng là chẳng hoại nhẫn đến không được như là như tướng.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Đức Phật biết rõ chúng sinh như tướng và chúng sinh tâm số xuất một co giãn như tướng, ngũ ấm như tướng) chư hành như tướng, cũng chính là tất cả pháp như tướng, đó là sáu ba la mật như tướng, đó là ba mươi bảy phẩm trợ đạo như tướng, đó là thập bát không như tướng, đó là bát bội xả như tướng, đó là chín thứ đệ định như tướng, đó là mười trí lực như tướng, đó là tứ vô úy, tứ vô ngại trí, đại từ đại bi, mười tám pháp bất cộng như tướng, đó là nhất thiết chủng trí như tướng, đó là pháp thiện, pháp bất thiện, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, pháp hữu vi, pháp vô vi như tướng, đó là quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, quả Vô thượng Bồ đề và chư Phật như tướng. Chư Phật như tướng đều là tướng nhất như, chẳng hai chẳng khác, chẳng tận. Đây gọi là tất cả pháp như tướng.
Đức Phật do Bát nhã ba la mật mà được như tướng vậy.
Vì thế nên Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Đức Phật biết rõ tất cả pháp như tướng, chẳng biệt dị, chẳng phải chẳng như. Vì được như tướng như vậy nên đức Phật được gọi là Như Lai".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Các pháp như tướng chẳng biệt dị, chẳng phải chẳng như ấy là rất sâu xa".
Bạch đức Thế Tôn! Chư Phật dùng pháp ấy mà vì người nói Vô thượng Bồ đề. Ai là người tin hiểu được? Chỉ có bậc bất thối Bồ Tát, người đầy đủ chính kiến, bậc vô lậu A La Hán. Vì pháp này rất sâu xa".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Vì pháp này tướng vô tận nên rất là sâu xa".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Pháp nào tướng vô tận nên là rất sâu xa?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Vì tất cả pháp vô tận nên là rất sâu xa".
Như vậy, này Tu Bồ Đề! Đức Phật được tất cả pháp như ấy rồi vì chúng sinh mà thuyết pháp"
PHẨM VẤN TƯỚNG THỨ BỐN MƯƠI CHÍN
Lúc bấy giờ trong cõi Đại Thiên có chư Thiên cõi Dục, sắc với rải hoa hương rồi bay đến chỗ đức Phật, đỉnh lễ chân Phật rồi đứng qua một phía mà thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đã nói ba la mật rất sâu. Những gì là tướng Bát nhã ba la mật rất sâu?".Đức Phật bảo chư Thiên cõi Dục, cõi sắc: "Này chư Thiên Tử! Tướng không, tướng vô tướng, tướng vô tác là tướng Bát nhã ba la mật rất sâu, tướng vô khởi, vô sinh, vô diệt, vô cấu, vô tịnh, vô sở hữu, vô tướng, vô sở y, tướng hư không là tướng Bát nhã ba la mật. Này chư Thiên Tử! Những tướng như là tướng Bát nhã ba la mật rất sâu.
Đức Phật dùng pháp thế gian để giảng nói cho chúng sinh, chứ chẳng phải là đệ nhất nghĩa.
Này chư Thiên Tử! Các tướng ấy, tất cả Thiên, Nhân, A Tu La trong đời không phá hoại được. Tại sao vậy? Vì Thiên, Nhân, A Tu La trong đời cũng là tướng.
Này chư Thiên Tử! Tướng không thể phá hoại tướng, tướng không thể biết tướng, tướng không thể biết vô tướng, vô tướng không thể biết tướng, tướng và vô tướng chỗ biết cho rằng biết đó là vì pháp biết đều chẳng thể được. Tại sao vậy? Này chư Thiên Tử! Các tướng chẳng phải sắc làm ra, chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức làm ra, chẳng phải sáu ba là mật làm ra, nhẫn đến chẳng phải nhất thiết chủng trí làm ra.
Này chư Thiên Tử! Các tướng ấy chẳng phải sở hữu của người, của trời, chẳng phải thế gian, xuất thế gian, chẳng phải hữu lậu, vô lậu, chẳng phải hữu vi, vô vi.
Này chư Thiên Tử! Như có người hỏi rằng những gì là tướng của hư không? Lời hỏi này có đúng không?
Chư Thiên thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Lời hỏi ấy không đúng. Vì hư không chẳng có tướng nói được, vì hư không chẳng sinh khởi chẳng bị làm ra".
Đức Phật bảo chư Thiên cõi Dục, cõi sắc:
“Có Phật hay không có Phật, tính tướng vẫn thường trụ. Vì được tính tướng đúng như thật mà đức Phật được gọi là Như Lai”.
Chư Thiên thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật được các pháp tinh tướng rất sâu. Được tính tướng ấy rồi được vô ngại trí. An trụ trong tướng này dùng Bát nhã ba la mật họp tự tướng của các pháp.
Bát nhã ba la mật này là chỗ thường hành đạo của chư Phật. Do hành đạo này nên được Vô thượng Chính giác. Do được Vô thượng Bồ đề mà thông đạt tất cả pháp tướng, hoặc sắc tướng nhẫn đến nhất thiết chủng trí tướng”.
Đức Phật phán: "Đúng như vậy. Này chư Thiên Tử! Tướng não hoại là tướng của sắc, cảm giác là tướng của thọ, duyên lấy tướng của tưởng, sinh khởi tạo tác là tướng của hành, liễu biệt là tướng của thức. Đức Phật được không các tướng ấy.
Này chư Thiên Tử! Hay xả thí là tướng Đàn na ba la mật, không nhiệt não là tướng của Thi la ba la mật, chẳng đổi khác là tướng của Nhẫn ba la mật, chẳng thối lui là tướng của Tấn ba la mật, nhiếp tâm là tướng của Thiền ba la mât bỏ lìa là tướng Bát-nhã ba la mật. Đức được không có các tướng ấy.
Này chư Thiên Tử! Lòng không nhiễu hại não loạn là tướng của tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định. Đức Phật được không các tướng ấy.
Này chư Thiên Tử! Xuất thế gian là tướng của ba mươi bảy phẩm trợ đạo, rời lìa là tướng của không giải thoát, tịch diệt là tướng của vô tướng giải thoát, khổ là tướng của vô tác giải thoát. Đức Phật được không các tướng ấy.
Này chư Thiên Tử! Siêu thắng là tướng của mười trí lực, chẳng kinh sợ là tướng của bổn vô úy, biết khắp hết là tướng của bổn trí vô ngại, người khác không được là tướng của mười tám pháp bất cộng. Đức Phật được không các tướng ấy.
Này chư Thiên Tử! Thương xót chúng sinh là tướng của đại từ đại bi, chân thật là tướng của không sai lầm, vô sở thủ là tướng của thường xả, hiện tại biết rõ là tướng của nhất thiết chủng trí. Đức Phật được không các tướng ấy.
Này chư Thiên Tử! Vì được tất cả pháp không tướng nên đức Phật được gọi là bậc trí vô ngại".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Bát nhã ba la mật là mẹ chư Phật. Bát nhã ba la mật hay hiển thị tướng thế gian. Thế nên Phật y chỉ pháp để an trụ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ca ngợi pháp ấy. Pháp ấy là gì? Chính là Bát nhã ba la mật. Đức Phật y chỉ nơi Bát nhã ba la mật để an trụ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ca ngợi Bát nhã ba la mật. Vì Bát nhã ba la mật này xuất sinh chư Phật.
Này Tu Bồ Đề! Vì đức Phật là người biết tác động. Nếu có người hỏi đúng. Là người biết tác động đáp đúng, không ai hơn đức Phật.
Này Tu Bồ Đề! Vì đức Phật là ngươi biết tác động nên pháp của đức Phật đi và đạo của đức Phật đến chừng được Vô thượng Bồ đề. Đức Phật trở lại cúng dường, cung kính, tôn trọng, ca ngợi pháp ấy, đạo ấy và thọ trì thủ hộ pháp ấy, đạo ấy.
Này Tu Bồ Đề! Đó gọi là đức Phật là người biết tác động.
Lại này Tu Bồ Đề! Đức Phật biết tất cả pháp không có tướng tạo tác vì không có tướng tác giả. Tất cả pháp không có tướng sinh khởi vì không có hình sự.
Này Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết các pháp không có tướng tạo tác, không có tướng sinh khởi. Cũng vì cớ này mà đức Phật là người biết tác động.
Lại này Tu Bồ Đề! Đức Phật do Bát nhã ba la mật mà được tất cả pháp chẳng sinh, vì là vô sở đắc vậy. Thế nên Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp là không biết, là không thấy, sao Bát nhã ba la mật lại hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Đúng như vậy. Tất cả pháp không biết, không thấy. Thế nào là không biết, là không thấy? Vì tất cả pháp vốn không, là hư giả chẳng kiên cố, nên tất cả pháp không biết, không thấy.
Lại này Tu Bồ Đề! Tất cả pháp không y chỉ, không chỗ hệ phược, thế nên tất cả pháp không biết không thấy.
Do đó mà Bát nhã ba la mật hay sinh chư phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Vì chằng thấy sắc, chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng thấy nhất thiết chủng trí nên Bát nhã ba la mật hay hiển thị tướng thế gian, hay sinh chư Phật".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế ‘Tôn!
Tại sao chẳng thấy sắc nhẫn đến chẳng thấy nhất thiết chủng trí nên Bát nhã ba la mật hay hiển thị tướng thế gian?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Nếu chẳng duyên nơi sắc để sinh phân biệt, chẳng duyên nơi thọ, tưởng, hành, thức để sinh phân biệt, nhẫn đến chẳng duyên nơi nhất thiết chủng trí để sinh phân biệt, đó chẳng gọi là chẳng thấy tướng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn đến chẳng gọi là chẳng thấy tướng của nhất thiết chủng trí, nên hiển thị tướng thế gian. Do đây mà Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Lại này Tu Bồ Đề! Thế nào là Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian?
Này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị thế gian không.
Hiển thị thế gian không như thế nào?
Hiển thị ngũ ấm thế gian không, hiển thị thập nhị nhập thế gian không, hiển thị thập bát giới thế gian không, hiển thị thập nhị nhân duyên thế gian không, hiển thị ngã kiến cùng sáu mươi hai kiến thức thế gian không, hiển thị mười thiện đạo thế gian không, hiển thị tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ định thế gian không, hiển thị ba mươi bảy phẩm trợ đạo thế gian không, hiển thị sáu ba la mật thế gian không, hiển thị nội không, ngoại không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không thế gian không, hiển thị hữu vi tính, vô vi tính thế gian không, hiển thị mười trí lực nhẫn đến nhất thiết chủng trí thế gian không. Đó là hiển thị thế gian không.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Lại này Tu Bồ Đề! Đức Phật do Bát nhã ba la mật hiển thị thế gian không nên biết thế gian không, hay thế gian không, tư duy thế gian không, phân biệt thế gian không. Thế nên Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thể gian không.
Hiển thị Phật thế gian không thế nào?
Hiển thị ngũ ấm thể gian không, nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian không.
Thế nên Bát nhã ba la mật hay sinh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian bất khả tư nghì;
Hiển thị ngũ ấm thể gian bất khả tư nghì nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian bất khả tư nghì.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian ly;
Hiển thị ngũ ấm thế gian ly nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thể gian ly.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian tịch diệt;
Hiển thị ngũ ấm thể gian tịch diệt nhẫn đến biển thị nhất thiết chủng trí thế gian tịch diệt.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian rốt ráo không:
Hiển thị ngũ ấm thế gian rốt ráo không nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian rốt ráo không.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian tính không:
Hiển thị ngũ ấm thế gian tính không nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian tính không.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian vô pháp không:
Hiển thị ngũ ấm thế gian vô pháp không nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian vô pháp không.
Lạỉ này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian hữu pháp không:
Hiển thị ngũ ấm thế gỉan hữu pháp không nhẫn đến hỉển thị nhất thiết chủng trí thế gian hữu pháp không.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hỉển thị Phật thế gỉan hữu pháp không, hiển thị ngũ ấm thế gian hữu pháp không, nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian hữu pháp không.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian vô pháp hữu pháp không:
Hiển thị ngũ ấm thế gian vô pháp hữu pháp không nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian vô pháp hữu pháp không.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian độc không:
Hiển thị ngũ ấm thế gian độc không nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian độc không.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hay xuất sinh chư Phật, hay hiển thị tướng Phật thế gian.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật sâu xa này hiển thị tướng thế gian, đó là tướng chẳng sinh đời này, đời sau. Tại sao vậy? Vì các pháp không có tướng dùng sinh đời này, đời sau được".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật này vì sự lớn mà phát khởi, vì sự bất khả tư nghì mà phát khởi, vì sự bất khả xưng mà phát khởi, vì sự vô lượng mà phát khởi, vì sự vô đẳng mà phát khởi”.
Đức Phật bảo Ngài Tu Bố Đề: “Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề, Bát nhã ba la mật này vì đại sự, vì bất khả tư nghì sự, vì bất khả xưng sự, vì vô đẳng đẳng sự, vì vô đẳng sự mà phát khởi.
Thế nào Bát nhã ba la mật vì đại sự nên phát khởi?
Này Tu Bồ Đề! Đại sự của chư Phật là: cứu tất cả chúng sinh, chẳng rời bỏ tất cả chúng sinh.
Thế nào Bát nhã ba la mật vì bất khả tư nghì sự nên phát khởi?
Này Tu Bồ Đề! bất khả tư nghì sự là Phật pháp, là pháp của Như Lai, là pháp của đấng tự nhiên, là pháp của bậc nhất thiết trí.
Thế nào là Bát nhã ba la mật vì bất khả xưng mà phát khởi?
Này Tu Bồ Đề! Sự bất khả xưng là vì trong tất cả chúng sinh không ai có thể tư duy xưng lược được pháp của Phật, pháp của Như Lai, pháp của đấng tự nhiên, pháp của bậc nhất thiết trí.
Thế nào là Bát nhã ba la mật vì sự vô lượng mà phát khởi?
Này Tu Bồ Đề! Trong tất cả chúng sinh không có ai thể lường được pháp của Phật, pháp của đấng Như Lai, pháp của đấng tự nhiên, pháp của bậc nhất thiết trí, thể nên Bát nhã ba la mật vì sự bất khả lượng mà phát khởi.
Thế nào là Bát nhã ba la mật vì vô đằng đằng sự mà phát khởi?
Này Tu Bồ Đề! Trong tất cả chúng sinh không ai có thể ngang bằng đức Phật huống là hơn, thế nên Bát nhã ba la mật vì sự vô đẳng đẳng mà phát khởi”.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật chỉ vì pháp của Phật, pháp của Như Lai, pháp của đấng tự nhiên, pháp cùa bậc nhất thiết trí, là sự bất khả tư nghì, bất khả xưng, bất khả lượng, vô đẳng đẳng mà phát khởi ư?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Đúng như vậy. Pháp của Phật, của Như Lai, của đấng tự nhiên, của bậc nhất thiết trí là sự bất khả tư nghì, bất khả xưng, bất khả
lượng, vô đẳng đẳng. Sắc thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến nhất thiết chủng trí, pháp tính, pháp tướng đều cũng bất khả tư nghì, bất khả xưng, bất khả lượng, vô đẳng đẳng. Trong đây, tâm và tâm đều bất khả đắc.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì sắc bất khả đắc nhẫn đến nhất thiết chủng trí bất khả đắc nên sắc nhẫn đến nhất thiết chủng trí đều bất khả nghì, bất khả xưng, bất khả lượng, vô đẳng đẳng.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Do đâu mà vì sắc bất khả đắc nên sắc bất khả tư nghì, đến vô đẳng đẳng? Nhẫn đến do đâu mà vi nhất thiết chủng trí bất khả đắc nên nhất thiết chủng trí bất khả tư nghì đến vô đẳng đẳng?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Vi không ai có thể lường được sắc nhẫn đến không ai có thể lường được nhất thiết chủng trí nên sắc bất khả đắc, nhẫn đến nhất thiết chủng trí bất khả đắc".
Tại sao vậy? Này Tu Bồ Đề! Vì sắc tướng bất khả tư nghì nên không ai lường được nhẫn đến vì sắc tướng vô đẳng đẳng nên không ai lường được, vì nhất thiết chủng trí bất khả tư nghì nên không ai lường được nhẫn đến vì nhất thiết chủng trí vô đẳng đẳng nên không ai lường được.
Này Tu Bồ Đề! Ý của ông thế nào? Trong bất khả tư nghì đến trong vô đẳng đẳng chừng có thể được chăng? sắc, thọ, tưởng, hành, thức đến nhất thiết chủng trí chừng có thể được chăng?”.
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể được!
- Thế nên, này Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đều bất khả tư nghì nhẫn đến cũng đều vô đẳng đẳng.
Này Tu Bồ Đề! Phật pháp đây bất khả tư nghì, bất khả xưng, hất khả lượng, vô đẳng đằng. Đây gọi là Phật pháp bất khả tư nghì nhẫn đến gọi là vô đẳng đẳng.
Này Tu Bồ Đề! Phật pháp bất khả tư nghì vì quá tư nghì vậy. Phật pháp bất xưng vì quá xưng vậy. Phật pháp bất khả lượng vì quá lượng vậy. Phật pháp vô đẳng đẳng vì quá đẳng đẳng vậy.
Này Tu Bồ Đề! Do đây nên tất cả pháp bất khả tư nghì đến vô đẳng đẳng.
Này Tu Bồ Đề! Bất khả tư nghì là gọi nghĩa ấy bất khả tư nghì, bất khả xưng là gọi nghĩa ấy bất khả xưng, bất khả lượng là gọi nghĩa ấy bất khả lượng, vô đẳng đẳng là gọi nghĩa ấy vô đẳng đẳng.
Này Tu Bồ Đề! Pháp của chư Phật đây bất khả tư nghì đến vô đẳng đẳng.
Bất khả tư nghì như hư không bất khả tư nghì, bất khả xưng như hư không bất khả xưng, bất khả lượng như hư không bất khả lượng, vô đẳng đẳng như hư không vô đẳng đẳng.
Này Tu Bồ Đề! Đây gọi là Phật pháp bất khả tư nghì nhẫn đến vô đẳng đẳng.
Phật pháp vô lượng như vậy. Tất cả Trời, Người, A Tu La không ai có thể tính lường nghĩ bàn được".
Lúc đức Phật nói phẩm Phật pháp bất khả tư nghì, bất khả xưng, vô lượng, vô đẳng đẳng này, có năm trăm Tỳ Kheo và hai mươi Tỳ Kheo Ni vì chẳng thọ tất cả pháp nên phiền não hết, tâm được giải thoát, chứng A La Hán, sáu muôn ưu Bà Tắc và ba muôn ưu Bà Di xa lìa trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, hai mươi đại Bồ Tát đưực vô sinh pháp nhãn, sẽ được thọ ký trong Hiền Kiếp này.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM HẰNG GIÀ ĐỀ BÀ - THỨ NĂM MƯƠI CHÍN Bấy giờ trong đại chúng có một nữ nhân tên Hằng Già Đề Bà, từ c...
13/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI CHÍN
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI CHÍN Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM KIÊN CỐ - THỨ NĂM MƯƠI SÁU Đức Phật phán dạy: "Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma đến Bồ Tát, muốn phá hoại...
11/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM ĐẠI NHƯ - THỨ NĂM MƯƠI BỐN Lúc bấy giờ chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đem hương bột chiên đàn cõi Trời...
08/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI BẢY
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI BẢY Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM THÀNH BIỆN THỨ NĂM MƯƠI Lúc bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật rất s...
06/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI LĂM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI LĂM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỷ kheo Thích Trí TỊnh PHẨM KINH NHĨ VĂN TRÌ THỨ BỐN MƯƠI LĂM Lúc đó Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân nghĩ rằng: “Nếu thiện nam, thiệ...
30/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BỐN
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BỐN Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM THÁN TỊNH THỨ BỐN MƯƠI HAI Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thanh tịnh này rất sâu!”. Đức P...
30/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM CHIẾU MINH THỨ BỐN MƯƠI Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đây chính là Bát nhã ba la mật?". Đ...
28/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI HAI
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI HAI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM TƯƠNG TỰ THỨ BA MƯƠI TÁM (Phần dưới) Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những gì l...
