F. THU SÁU NHẬP

Kinh : Anan, ví như có người dùng bàn tay lạnh rờ bàn tay nóng. Nếu bên lạnh nhiều hơn thì bên nóng lạnh theo. Nếu bên nóng nhiều hơn thì bên lạnh thành nóng lên. Như vậy, do cảm xúc nhận biết trong lúc hợp lại mà rõ sự nhận biết lúc rời ra. Cái thế chênh lệch giữa nóng và lạnh này thành là do mỏi mệt mà có ra cảm xúc. Cả hai thứ : Thân biết cảm xúc và cái mỏi đều là cái tướng sanh mỏi do chăm chú của Bồ Đề.
“Nhân nơi hai thứ vọng trần lìa và hợp phát ra cái hay biết ở bên trong, thu nạp các trần tượng đó mà gọi là cái biết cảm xúc. Cái biết như vậy lìa ngoài hai trần lìa và hợp, trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể.
“Thật vậy, Anan, phải biết rằng cái cảm xúc đó không phải từ cái lìa, cái hợp mà tới, không phảỉ từ nghịch thuận mà có, chẳng phải do nơi thân căn mà ra, cũng không phải do hư không mà sanh ra. Vì sao thế?
“Nếu từ hợp mà đến, thì khi lìa, cái biết đã mất rồi, làm sao biết được cái lìa. Đối với hai tướng nghịch thuận thì cũng như thế. Nếu từ thân căn mà có ra, hẳn không có những tướng lìa, hợp, nghịch, thuận thì cái biết cảm xúc của thân vốn không có tự tánh. Nếu từ hư không mà sanh ra thì hư không tự biết lấy, nào có liên quan gì đến chỗ thâu nhập của ông ?
“Thế nên, phải biết Thân Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.

Thông rằng : Cái biết do hợp lại mà có thì khi lìa ra bèn không có. Nhưng lìa ra rồi mới biết cảm xúc là thuận hay nghịch. Cái biết do đụng chạm với thân này, hơi khác với cái biết ở lưỡi. Tùy theo cái thế tương quan mà có hơn thua. Ví như cái nóng chạm cái lạnh, mà nóng mạnh hơn, thì cái lạnh nóng lên và ngược lại. Lạnh và nóng can thiệp nhau, hai tướng thành ra, chẳng có cái cảm xúc mỏi nhọc thì chẳng có việc nóng lạnh ấy. Cảm xúc dễ chịu thì nói là thuận, cảm xúc nghịch với thân thì gọi là trái nghịch. Nếu không có bốn tướng : lìa, hợp, thuận, nghịch, chỉ còn mỗi cái thân thì cái biết cảm xúc này ở tại nơi nào ? Cho nên mới nói vốn là không tự tánh. Tức là cái biết của thân này không do trần mà sanh, không do căn thân mà có ra, hẳnchẳng phải phân biệt mà biết. Không phải từ hư không mà sanh ra, hẳn chẳng phải là tự nhiên. Chẳng phải nhân duyên chẳng phải tự nhiên, gọi đó là Diệu Chân Như Tánh. Cái chuyên thấy, nghe, hay, biết ở trên là năm cái thức bên ngoài, do đối với cảnh mà biết, chẳng phải là cái biết của ý thức phân biệt. Tất cả đều là chỗ bày biện của Như Lai Tạng Tánh vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ Động Sơn : “Lạnh, nóng đến làm sao mà trôn tránh?”
Tổ Động Sơn nói : “Sao chẳng ở trong chỗ không nóng lạnh ?”
Hỏi : “Như thế nào là chỗ không hề nóng lạnh ?”
Tổ Sơn nói : “Lạnh thì lạnh chết Xà lê, nóng thì nóng chết Xà lê!”
Lại Tổ Tào Sơn hỏi một nhà sư : “Nóng như thế này, hướng về chỗ nào trốn tránh?”
Sư đáp : “Trốn vào trong vạc nước sôi, lò lửa !”
Tổ hỏi: ‘Trong vạc nước sôi, lò lửa làm sao trốn tránh ?”
Sư đáp: “Các khổ không thể đến !”
Đây là những lời trong nhà, như ra từ một miệng.
Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :
“Buồng tay lại đồng vách núi muôn tầm
Chánh, Thiên nào cần đến việc an bài
Cổ điện lưu ly trăng chiếu sáng
Nực cười binh mạnh bắc thang lên không!”
(Thùy thủ hoàn đồng vạn nhận nhai
Chánh Thiên hà tất tại an bài
Lưu ly cổ điện chiếu minh nguyệt
Nhẫn tuấn hàn lư không thượng giai.)
Rõ được ý này thì Thõng tay vào chợ cũng đồng là Núi cô tiêng đứng một mình.(13) về nguồn rõ Tánh và Sai Biệt Trí đều chẳng khác nhau. Chẳng khế hợp sâu xa với Tông Tào Động, chưa dễ nói được chỗ này.

About namcuulong

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *