Home / KINH - LUẬN / Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật / TẬP MỘT KINH MA HA BNBLM / KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT – QUYỂN THỨ TƯ

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT – QUYỂN THỨ TƯ

Bồ Tát rời tâm nhất thiết trí mà tu tứ niệm xứ nhẫn đến tu mười tám pháp bất cộng cũng nhớ, cũng được.
Như trên đây là vì không phương tiện nên có kinh sợ, rụt rè khi nghe Bát nhã ba la mật này.
Này Tu Bồ Đề! Có ác tri thức bảo Bồ Tát xa rời sáu ba la mật, hoặc chẳng giảng nói ma sự, chẳng giảng nói ma tội, chẳng nói rằng ác ma hiện hình Phật đến bảo Bồ Tát xa rời sáu ba la mật mà nói rằng: “Này thiện nam tử, cần gì tu sáu ba la mật làm chi!” Này Tu Bồ Đề! Phải biết đây là ác tri thức của Bồ Tát.
Lại có ác ma hiện hình Phật đến chỗ Bồ Tát mà giảng thuyết kinh pháp Thanh văn, hoặc trường hàng nhãn đến luận nghị. Chẳng vì Bồ Tát mà nói ma sự ma tội này phải biết đây là ác tri thứ của Bồ Tát.
Cũng chẳng vì Bồ Tát mà nói ma sự ma tội này: Ác ma hiện hình Phật đến bảo Bồ Tát: “Này thiện nam tử! Ngươi không có tâm thật Bồ Tát, ngươi chẳng phải bậc bất thối chuyển, ngươi cũng chẳng thể được Vô thượng Bồ đề”. Này Tu Bồ Đề! Phải biết đây là ác tri thức của Bồ Tát.
Cũng chẳng giảng, chẳng dạy ma sự, ma tội như vầy: Ác ma hiện hình Phật đến bảo Bồ Tát rằng sắc không nhẫn đến pháp bất cộng không;
Bát nhã ba la mật không nhẫn đến Đàn na ba la mật không, vậy ngươi cầu Vô thượng Bồ đề để làm gì ! Này Tu Bồ Đề! Phải biết đây là ác tri thức của Bồ Tát.
Cũng chẳng giảng, chẳng dạy ma sự ma tội như vầy: Ác ma hiện hình Bích Chi Phật đến bảo Bồ Tát rằng mười phương đều rỗng không, trong đó chẳng có Phật, Bồ Tát và Thanh văn. Này Tu Bồ Đề! Phải biết đây là ác tri thức của Bồ Tát.
Cũng chẳng giảng dạy ma sự, ma tội như vầy: Ác ma hiện hình Hòa Thượng A Xà Lê đến bảo Bồ Tát bỏ nhất thiết chủng trí, bỏ Bồ Tát đạo, bảo Bồ Tát bỏ tử niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng, bảo Bồ Tát nhập không, vô tướng, vô tác để chứng quả Thanh Văn, cần gì Vô thượng Bồ đề. Này Xá Lợi Phất! Phải biết đây là ác tri thức của Bồ Tát.
Cũng chẳng giảng dạy ma sự, ma tội như vầy: Ác ma hiện hình cha mẹ đến bảo Bồ Tát tinh tấn cầu chứng quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến quả A La Hán, cần gì phải cầu Vô thượng Bồ đề. Nếu cầu Vô thượng Bồ đề sẽ phải thọ sinh tử trong vô lượng VÔ số kiếp, phải bị chặt tay, chặt chân đau khổ. Này Xá Lợi Phất! Phải biết đây là ác tri thức của Bồ Tát.
Có tri thức chẳng giảng, chẳng dạy ma sự ma tội như vầy: Ác ma hiện hình Tỳ Kheo đến bảo Bồ Tát các pháp nhãn sắc nhãn đến ý vô thường, khổ, vô ngã, không, vô tướng, vô tác, ly, tịch diệt đều là pháp bất khả đắc. Cũng dùng pháp khả đắc để nói tứ niệm xứ nhẫn đến pháp bất cộng. Này Tu Bồ Đề! Phải biết đây là ác tri thức của Bồ Tát. Đã biết rồi thời phải lánh xa hạng ác tri thức này”.

PHẨM CÚ NGHĨA THỨ MƯỜI HAI

Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát cú nghĩa?”.
Đức Phật nói: “Này Tu Bồ Đề! Không cú nghĩa là Bồ Tát cú nghĩa.
Tại sao vậy? vì Vô thượng Bồ đề không có nghĩa xứ cũng không có ngã, thế nên không cú nghĩa là Bồ Tát cú nghĩa.
Ví như chim bay trong hư không chẳng có dấu tích, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như những sự thấy trong giấc mộng không chỗ có, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như ảo thuật, dương diêm, ảnh hưởng, biến hóa đều không có thật nghĩa, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như pháp như, pháp tính, pháp tướng, pháp vị và thật tế không có nghĩa, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như sắc, thọ, tưởng, hành, thức của ảo nhân không có nghĩa, đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như lục căn, lục trần, lục thức của ảo nhân không có nghĩa, ví như nhãn xúc, nhân duyên, sinh thọ nhẫn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ của ảo nhân không có nghĩa, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như lúc ảo nhân thật hành nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không chẳng có nghĩa, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như lúc ảo nhân thật hành tứ niệm xứ nhẫn đến pháp bất cộng không có nghĩa, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như Như Lai, ứng Cúng, Chính Đẳng, Chính Gỉác, sắc, thọ, tưởng, hành, thức không có nghĩa vì ngũ uẩn đây không có vậy, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như đức Phật, nhãn đến ý, sắc đến pháp, nhãn xúc đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ đều không xứ sở, đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như đức Phật, nội không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến pháp bất cộng đều không xử sử, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong tính hữu vi không, tính nghĩa vô vi, trong tính vô vi không, tính nghĩa hữu vi, đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như bất sinh, bất diệt không xứ sở như hất tác, bất xuất, bất đắc, bất cấu, bất tịnh đều không xứ sở, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy”.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Vì pháp gì bất sinh, bất diệt nên không xứ sở? Vì pháp gì bất tác, bất xuất, bất đắc, bất cấu, bất tịnh nên không xứ sở?”.
Đức Phật nói: “Này Tu Bồ Đề! Vì ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới đều bất sinh, bất diệt nhẫn đến bất cấu, bất tịnh nên không xứ sở. Vì tứ niệm xứ đến pháp bất cộng đều bầt sinh, bất diệt nhẫn đến bất cấu, bất tịnh nên không xứ sở.
Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Này Tu Bồ Đề! Như nơi tử niệm xứ đến pháp bất cộng, tịnh nghĩa rốt ráo bất khả đắc, đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong tịnh, ngã nhẫn đến tri giả, kiến giả đều bất khả đắc, vì ngã đến kiến giả đều không chỗ có vậy. Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Này Tu Bồ Đề! Ví như lúc mặt nhật mọc lên thời không có tối tăm. Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như thời kỳ kiếp thiêu không có tất cả vật. Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong Phật giới không có phá giới. Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong Phật định không có loại tâm, trong Phật huệ không có ngu si, trong Phật giải thoát không có chẳng giải thoát, trong Phật giải thoát tri kiến không có chẳng giải thoát tri kiến. Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong Phật quang thời nguyệt quang, nhật quang không hiện, như trong Phật quang thời quang minh của chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đều không hiện. Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Tại sao vậy? Vì Vô thượng Bồ đề cùng Bồ Tát và Bồ Tát cú nghĩa, tất cả pháp đây đều chẳng hiệp, chẳng tan, không sắc, không hình, không đối là nhất tướng, chính là vô tướng.
Này Tu Bồ Đề! Vô ngại tướng trong tất cả pháp đây, đại Bồ Tát phải nên học, cũng phải nên biết”.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Những gì là tất cả pháp? Thế nào là vô ngại tướng trong tất cả pháp mà phải học, phải biết?”.
Đức Phật nói: “Này Tu Bồ Đề! Tất cả pháp là pháp thiện, pháp bất thiện, pháp hữu ký, pháp vô ký, pháp thế gian pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp cộng, pháp bất cộng. Đây gọi là tất cả pháp, trong tất cả pháp vô ngại tướng đây, đại Bồ Tát phải học, phải biết.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Những gì là pháp thiện thế gian nhẫn đến những gì là pháp bất cộng?”.
Đức Phật nói: “Này Tu Bồ Đề! Pháp thiện thế gian là hiếu thuận với cha mẹ, cúng dường Sa Môn, Bà La Môn, cúng thờ bậc tôn trưởng, chỗ phước bố thí, chỗ phước trì giới, chỗ phước tu thiền định, chỗ phước khuyến đạo, phương tiện sinh phước đức, thập thiện đạo thế gian, quán tưởng chín tướng bất tịnh: tướng xanh, tướng sình, tướng máu, tướng nứt, tướng nhũn bấy, tướng bị ăn, tướng tan rã, tướng xương, tướng thiêu, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, niệm Phật, niệm

About namcuulong

Check Also

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT – QUYỂN THỨ BẢY

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT – QUYỂN THỨ BẢY Hán dịch: Pháp ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *