Home / Pháp Uyển Châu Lâm / PUCL - Tập 7 / PUCL QUYỂN 100 – CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
chua-Du-Hang

PUCL QUYỂN 100 – CHƯƠNG TRUYỆN KÍ

Ba đời vua đầu tiên của nhà Đường vừa kể trên, trong nước có hơn bốn nghìn ngôi chùa, hơn sáu vạn tăng ni, kinh tượng nhiều vô số, lại dịch được hơn một nghìn năm trăm quyển kinh luận.
100.6. LỊCH TOÁN
Tháng mười, mùa đông niên hiệu Trinh Quán mười ba (639), đời Đường, vua sắc lệnh Hình bộ thượng thư Lưu Đức Uy, Lễ bộ thị lang Lịnh Hồ Đức Phân, Thị ngự sử Vi Tông, Ung châu tư công Mao Minh Tố v.v… đến thưa hỏi pháp sư Pháp Lâm:
– Theo Biện Chính luận, quyển năm ghi: “Lịch của Diêu Trương Khiêm nói Phật đản sinh năm Giáp Dần, đời Chu Chiếu Vương (1052BC-?), diệt độ năm Nhâm Tý đời Chu Mục Vương (1001BC-?)”. Nhưng vì sao trong truyện Pháp Hiển lại nói Phật sinh vào thời Ân vương (khoảng từ 1400-1100BC). Còn Tượng chỉnh chi kí thì cho rằng Phật sinh vào thời Chu Bình vương (7-720BC). Căn cứ vào các bộ luận của ngài Đạo An thì ngài xác nhận Đức Phật sinh thời Chu Hoàn vương (7-697BC); còn Phí Trường Phòng lại ghi Phật sinh vào thời Chu Trang vương (7-682BC). Vì sao có nhiều sự truyền thuật khác nhau như thế, không biết phải nương theo thuyết nào? Ngưỡng mong pháp sư nói rõ duyên do của sự bất đồng này!
Pháp sư đáp:
– Bần đạo nghe nói, Đức Phật ứng hiện đản sinh, vốn mong cứu giúp muôn loài, có cảm liền ứng, không duyên thì chẳng thấy. Nên kinh ghi: “Một âm thanh phát ra, tùy từng loài mà cảm nhận khác nhau”. Luận về âm thanh đã như thế thì ngôn ngữ cũng vậy. Truyện kí trình bày như thế, đều có cái lí của nó. Nay bần đạo căn cứ theo nhiều thuyết để trình bày. Trước tiên, bần đạo xin nêu ra những thuyết đúng, sau đó sẽ nói rõ những thuyết không chính xác.
Căn cứ theo thuyết của pháp sư Đàm-vô-tối đất Ngụy; pháp sư Thượng Thống đời Tùy, Tu lịch bác sĩ Diêu Trương Khiêm. Cũng y cứ theo Chu Mục vương thiên tử truyện, Chu thư dị kí, Lưu Hướng liệt tiên truyện tự đời Tiền Hán, cổ cựu nhị lục, Pháp bản nội truyện đời Hậu Hán; Pháp vương bản kỉ của Phó Nghị, Ngô thượng thư Linh khám trạch; cũng lại căn cứ theo như các bộ kinh A-hàm, rồi nghiên cứu kĩ thì bần đạo hy vọng có được thời gian chính xác: Vào ngày rằm tháng bảy, năm Quý Sửu, nhằm năm thứ hai mươi ba Chiêu vương Cơ Hà (1030 BC), vị vua thứ năm đời Chu, Đức Phật từ cung trời Đâu-suất, hiện thành voi trắng giáng trần, gá vào thai hoàng hậu Ma-gia, trong cung vua Tịnh Phạn. Vậy nên trong Pháp bản nội truyện, đời Hậu Hán ghi: “Minh đế hỏi pháp sư Ma-đằng:
– Pháp sư có biết Đức Phật sinh vào ngày, tháng, năm nào không?
Pháp sư đáp:
– Vào ngày rằm tháng bảy, năm Quý Sửu, Đức Phật gá vào thai hoàng hậu Ma-gia. Đến ngày mồng tám tháng tư năm Giáp Dần, tức năm thứ hai mươi bốn đời Chu Chiêu vương (1029 BC), Đức Phật đản sinh từ hông bên phải, tại gốc cây sa-la, trong vườn Lâm-tì-ni”.
Kinh Phổ diệu ghi: “Lúc Phật đản sinh, hào quang chiếu sáng khắp Tam thiên đại thiên thế giới”.
Chu thư dị kí cũng chép: “Vào ngày mồng tám tháng tư, năm Giáp Dần, tức năm thứ hai mươi bốn đời Chu Chiêu vương (1029BC), sông, suối, khe, ngòi bỗng nhiên dâng lên cao và tràn bờ; cung điện, nhà cửa, núi sông, đại địa thảy đều chuyển động. Đêm ấy, có một luồng khí sáng năm màu xuyên qua thái vi, chiếu soi khắp phương tây, rồi sau đó biến thành màu xanh hồng. Chiêu vương liền hỏi Thái sử Tô Do:
– Đây là điềm lành gì?
Tô Do đáp:
– Thưa bệ hạ, đây là điềm lành có vị thánh nhân ra đời ở phương tây!
Chiêu vương hỏi:
– Đất nước ta có được hồng phúc gì không?
Tô Do thưa:
– Hiện tại thì chưa, nhưng một nghìn năm sau thì Phật pháp sẽ truyền sang đất nước ta.
Chiêu vương liền lệnh cho khắc vào đá ghi lại điều này, rồi đem chôn cất trước miếu thờ trời tại nam giao”.
Lúc nửa đêm ngày mồng tám tháng tư, năm Nhâm Dần, tức năm thứ bốn mươi hai đời Chu Chiêu vương (1011 BC), thái tử Tất-đạt-đa vượt thành xuất gia. Vậy nên kinh Thụy ứng ghi: “Nửa đêm ngày mồng tám tháng tư, thái tử mười chín tuổi, chư thiên đứng bên song cửa chắp tay thưa:
– Đúng lúc ngài nên đi! _ Nhân đó, thái tử thúc ngựa lên đường”.
Ngày mồng tám tháng hai năm Quý Mùi tức năm thứ hai Mục vương Cơ Mãn (1000 BC), vị vua thứ sáu đời Chu, Đức Phật thành đạo, lúc ấy ngài ba mươi tuổi. Cho nên kinh Phổ Diệu ghi: “Lúc sao mai vừa mọc, bồ-tát hoát nhiên đại ngộ”. Đến ngày rằm tháng hai, năm Nhâm Thân, tức năm thứ năm mươi hai đời Chu Mục vương (950 BC), Đức Phật diệt độ, lúc này Ngài bảy mươi chín tuổi. Cho nên kinh Niết-bàn ghi: “Ngày rằm tháng hai, lúc Đức Phật sắp vào niết-bàn, có nhiều ánh sáng xuất hiện, mặt đất chấn động, vang đến cõi trời Hữu Đỉnh, ánh sáng chiếu khắp Tam thiên đại thiên thế giới”.
Chu thư dị kỉ cũng ghi: “Sáng sớm ngày mười lăm tháng hai, năm Nhâm Thân, tức năm thứ năm mươi hai đời Chu Mục vương (950 BC), một cơn gió mạnh nổi lên làm nhà cửa đổ sập, cây cối ngã gãy, núi sông đại địa đều chấn động. Đến chiều hôm ấy, bầu trời u ám, mây đen vần vũ. Phương tây có mười hai đạo cầu vồng bắc từ phương bắc sang phương nam, suốt đêm không mất. Mục vương hỏi Thái sử Hộ Đa:
– Khanh có biết đây là điềm gì không?
Hộ Đa đáp:
– Thưa bệ hạ, đây là điềm phương tây có thánh nhân diệt độ!”.
Bắt đầu từ năm Giáp Dần, năm thứ hai mươi bốn đời Chu Chiêu vương (1029 BC), Đức Phật thị hiện đản sinh, đến năm Kỉ Hợi, niên hiệu Hàm Hanh thứ hai (671), đời Đường, là đã trải qua một nghìn sáu trăm chín mươi chín năm.
Theo Tây Vực hành truyện của Vương Huyền Sách ghi: “Đại đức Xa-na-khư-tuyền-đà ở chùa Bồ-Đề, nước Ma-già-đà, đã căn cứ theo các kinh để tính toán, rồi cho:
– Lúc mười chín tuổi, vào đầu đêm ngày rằm tháng tư, bồ-tát Thích-ca vượt thành xuất gia. Năm ba mươi tuổi ngài thành đạo và năm bảy mươi chín tuổi ngài nhập niết-bàn. Tính đến nay, niên hiệu Hàm Hanh thứ hai (671), chỉ mới trải qua một nghìn ba trăm chín mươi lăm năm”. (Vì lịch toán ở Ẩn Độ khác với Trung Quốc nên có sự ngắn dài khác nhau; vả lại trước nói sau thuật cũng đã có sai).
Pháp Hiển truyện ghi: “Đức Phật đản sinh vào đời Ân vương (khoảng 1400-1100 BC)”. Nhưng ngài Pháp Hiển tuy có đi qua nhiều nước, nhưng lời truyền này không đáng y cứ, năm tháng sai lệch hẳn với phong tục, thật không đáng tin. Lại có thuyết của Đạo An nói Ất Sửu và Thượng Thống nói Giáp Dần. Các thuyết này đều không có căn cứ, chưa đủ tin cậy. Còn như trong Tượng chính chỉ kí thì ít thấy y cứ theo. An công tạo luận căn cứ theo sự ghi chép của La-thập. La-thập tiếp nối từ An Thế Cao. Ngài An Thế Cao là người chấp bút phiên dịch kinh vào thời Hoàn đế (132-167), nhà Hán, tại Lạc Dương. Đời Tần (401), ngài La-thập mới đến Trường An, còn ngài An Thế Cao đã đến Lạc Dương năm 147, đời Hán (25-220). Hai ngài đến Trung Quốc cách nhau gần ba trăm năm. Nếu đúng là La-thập nối tiếp viết kí thì chẳng phải do Đạo An khinh suất luận thuật sai lầm, thì cũng là do lỗi của người đương thời truyền thuật.
Theo như học sĩ phiên kinh Phí Trường Phòng, thì Phật sinh vào thời Trang vương. Trường Phòng cho rằng có hai Trang vương cùng thời, là Chu Trang vương năm thứ mười (685 BC) tức là Lỗ Trang vương năm thứ bảy. Nếu chỉ căn cứ vào Hằng tinh để xác định ngày Phật sinh thì chưa hiểu được ngoài Hằng tinh còn do những điều kiện khác.
Kinh Văn-thù-sư-lợi niết-bàn ghi: “Sau Phật diệt độ hai trăm năm mươi năm, Văn-thù đến Tuyết sơn giáo hóa năm trăm tiên nhân xong, lại trở về bản quốc, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp thế giới, rồi vào niết-bàn,” Điềm lành có Hằng tinh tức là thời kì này. Trường Phòng nói Đức Phật sinh ngày mồng tám tháng hai, nhưng sự thực là tháng tư chứ chẳng phải là tháng hai. Sự phán định của Trường Phòng chưa thấu đáo căn nguyên sự việc, ông cho rằng đời Chu lấy tháng mười một là tháng giêng, nên nói tháng tư tức nay là tháng hai. Tuy rằng tháng hai chung qui là tháng tư, nhưng theo Xuân thu nhất bộ thì năm dùng theo năm của Lỗ hầu, tháng thì dùng tháng của Chu vương, mà Hằng tinh vốn hiện vào đời Chu, thì phải căn cứ theo ngày tháng Chu. Trường Phòng xác định Phật sinh ngày mồng tám tháng hai năm thứ mười đời Chu Trang vương (685 BC), thật đã quá vội vàng. Nếu cho rằng Phật sinh vào tháng hai thì không nên nói về Hằng tinh. Trường Phòng lại bảo Đức Phật gá thai mẹ vào mồng tám tháng tư, vậy nếu gá thai đã dùng theo ngày tháng

About namcuulong

Check Also

chua-an-do

PUCL QUYỂN 96 – CHƯƠNG XẢ THÂN

QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *