Home / Pháp Uyển Châu Lâm / PUCL - Tập 7 / PUCL QUYỂN 96 – CHƯƠNG XẢ THÂN
chua-an-do

PUCL QUYỂN 96 – CHƯƠNG XẢ THÂN

Tại cõi Phật Di-đà
Mau thấy khắp mười phương
Chư Phật và hiền thánh
Xa lìa ba đường dữ
Quyết định đạt chính đạo.
Báo thân chứng ngũ thông
Tự tại bay đi khắp
Thụ thực bên cây báu
Chứng quả vị Vô sinh
Pháp thân được tự tại
Nhưng không lìa ba cõi
Diệt hết các đường ma
Hộ chính pháp làm đầu
Đầy đủ hạnh Thập địa
Giáo hóa khắp muôn phương
Công đức đủ tứ thắng
Được gọi là Pháp vương.
Nguyện xả bỏ thân này
Khiến mau có thần thông
Pháp thân được tự tại
Ở mãi trong các đường
Tùy chỗ làm lợi ích
Hộ pháp, cứu chúng sinh
Hậu nghiệp cần dứt hết.
Pháp hữu vi đều vậy
Ba cõi đều vô thường
Thời đến không do mình
Giết người và tự sát
Rốt cuộc cũng như thế.
Người trí không ưa thích
Phải nên suy nghĩ kĩ
Các duyên đã nhóm họp
Nghiệp dứt ngay lúc này.
96.3.7. Đời Tùy, Thích Đại Chí ở Lô sơn, Cửu Giang: Sư họ cố, người Sơn Âm, cối Kê. Ban đầu, sư xuất gia và thờ ngài Thiên Thai Trí Giả làm thầy. Nhìn dung mạo, ngài biết sư có ý chí siêu xuất. Mọi người thấy ngài Trí Giả quan tâm ưu ái, nên biết sư là bậc phi phàm, về sau, sư lập đạo tràng Tĩnh Quán ở phía nam ngọn Cam Lộ thuộc rặng Hoa sơn, tu hạnh đầu-đà. Sư ở một mình, khi nghe tiếng gầm của hổ thì không lẩn tránh mà lại đến gần, chúng liền tránh đi, không dám hại sư. Trải qua bảy năm, sư chuyên tu thiền định, không gián đoạn, về già, sư ở chùa Phúc Lâm tại núi này.
Đến niên hiệu Đại Nghiệp (605-617), triều đình hủy diệt Phật pháp, chư tăng ẩn trốn khắp nơi. Xót xa cho Phật pháp bị kiếp nạn, sư bèn thay đổi y phục, hủy hình hài, đầu đội khăn tang, đắp y vải thô, ba ngày ba đêm gào khóc thảm thiết trong điện Phật, chúng tăng trong chùa an ủi, can ngăn. Sư đáp:
– Buồn cho nghiệp ác nặng đến như thế! Ta sẽ xả thân này để làm sáng tỏ Thánh giáo.
Sư liền về Đông đô, dâng biểu: “Mong bệ hạ xiển dương Phật pháp, được như vậy thì bần tăng nguyện dâng một cánh tay ở Tung Nhạc cúng dường pháp và cũng để báo ân đất nước”.
Nhà vua đồng ý, ban lệnh thiết trai hội lớn, thông báo cho bảy chúng tập họp. Ba ngày không ăn, sư bước lên một đài lớn, nung một miếng sắt đỏ rực để đốt cánh tay. Khi cánh tay cháy, sư dùng dao chặt đứt, thịt nát lộ bày xương. Sư lại đốt xương cháy đen, sau đó dùng vải tẩm sáp quấn cánh tay rồi đốt, lửa cháy sáng rực khắp cả ngọn núi. Đại chúng nhìn thấy việc tu khổ hạnh của sư, đều đau đớn thấu xương tủy, hai chân đứng không vững. Tuy lửa cháy mạnh mà tiếng nói và sắc mặt của sư không biến đổi, vẫn nói cười như không có gì; hoặc sư tụng kinh Pháp hoa, khen ngợi công đức của Phật, hoặc nói pháp cho đại chúng, ngôn từ thật ân cần, tha thiết. Sau khi cánh tay cháy hết, như lúc bước lên, sư an nhiên bước xuống đài, nhập định liên tục bảy ngày, rồi ngồi kết già thị tịch. Năm đó, sư bốn mươi ba tuổi.
96.3.8. Đời Đường, sa-môn Thích Hội Thông: Sư người Túc Xuyên, Vạn Niên Ngự, Ưng châu, lúc nhỏ thích sống cần kiệm, ưa dạo chốn sông núi, lấy việc nghiêm trì giới hạnh làm chí nguyện. Sư ẩn cư tại hang Báo Lâm, núi Chung Nam, khi tụng kinh Pháp hoa, đến phẩm Dược Vương bồ-tát bản sự, liền phát tâm xả thân. Từ đó, sư thấm chất củi và phát nguyện sẽ làm việc này.
Đến niên hiệu Trinh Quán cuối cùng (648), vào một đêm thanh vắng, sư vào rừng chất củi thành một cái hang, rồi vào trong đó ngồi tụng kinh Pháp hoa, khi đến phẩm Dược Vương bồ-tát bản sự thì châm lửa. Gió thổi lửa cháy rất mạnh, nhưng sư vẫn ngồi kết già ngay thẳng, tiếng tụng kinh vẫn rõ ràng. Lát sau, có luồng ánh sáng lớn màu trắng từ hướng tây nam bay vào đống lửa, thì sư mới ngã xuống. Đến sáng lửa mới tắt, đại chúng thâu lấy hài cốt của sư, rồi xây tháp và dựng bia.
96.3.9. Đời Đường, hai vị tì-kheo ni: Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), ở Kinh châu có hai chị em tì-kheo ni cùng tụng kinh Pháp hoa, họ khởi tâm nhàm chán thân này nên muốn xả thân. Họ tiết chế ăn mặc, siêng tu khổ hạnh, uống các loại dầu thơm, dần dần nhịn ăn ngũ cốc, sau đó bỏ hẳn, chỉ dùng hương mật, nhưng tinh lực vẫn đầy đủ, tâm trí sáng suốt. Hai vị nói với tất cả mọi người ngày giờ đốt thân.
Đến ngày mùng tám tháng hai, niên hiệu Trinh Quán thứ hai (628), hai vị làm hai tòa cao ở ngã tư đường lớn, dùng vải nhúng sáp quấn quanh từ chân đến đầu, chỉ chừa khuôn mặt. Lúc ấy mọi người nhóm họp rất đông, ca ngợi tán thán. Khi tụng kinh Pháp hoa đến đoạn bồ-tát Dược Vương đốt thân cúng dường, người chị lấy lửa châm đỉnh đầu người em, người em lại dùng lửa châm đỉnh đầu người chị. Trong đêm thanh vắng hai ngọn lửa cháy sáng cùng lúc. Lửa cháy xuống đến mắt thì tiếng tụng kinh vẫn rõ ràng, dần dần cháy đến mũi miệng mới im lặng.
Sáng hôm sau, mọi người đồng nâng thân lên thì cùng lúc tan rã, xương cốt cháy hết, chỉ còn hai cái lưỡi. Mọi người vui mừng ca ngợi, xây tháp phụng thờ.
96.3.10. Đời Đường, Thích Huyền Lãm: Sư người Phòng Tử, Triệu châu, trụ tại chùa Hoàng Phúc, Tây Kinh, thường lấy việc ngồi thiền, tụng kinh, lễ Phật sám hối làm sự nghiệp. Mỗi khi thuyết pháp, sư thường nói:
– Tuy cùng là sự nghiệp giải thoát, nhưng tôi vẫn thệ nguyện muốn xả thân!
Đến đầu tháng tư, niên hiệu Trinh Quán mười tám (644), sư cởi hết y phục, gói trong một chiếc khăn, rồi giao cho chúng tăng trong chùa, chỉ mặc một Phú kiên y, âm thầm đến phía đông kinh đô, dừng bên phường Hồng Pha, bờ bắc sông Vị. Đến sáng, sư xuống sông Vị và xưng niệm danh hiệu Phật, lễ bái xong, gieo mình xuống chỗ nước xoáy, mọi người vớt lên, sư nói:
– Tôi thệ nguyện xả thân lâu rồi. Muốn học theo các bậc đại sĩ, việc khó xả mà có thể xả. Đó là hạnh chính nói trong các kinh, mong mọi người chớ ngăn cản mà trở ngại đến đạo nghiệp của tôi!
Biết ý sư đã quyết, nên mọi người vâng theo. Sư liền nhảy xuống sông, chắp tay niệm Phật, phát nguyên lớn rồi chìm xuống dòng nước xoáy. Ba ngày sau, thi thể của sư mới nổi, người trong thôn vớt lên, xây tháp dựng bia phụng thờ.
Chư tăng trong chùa lấy làm lạ, không thấy sư trở về, liền mở khăn ra mới thấy bức di thư ghi:
– Kính bạch ba đời mười phương chư Phật! Đệ tử Huyền Lãm, từ khi xuất gia đến nay đã được mười hai mùa hạ, tuy ở trong tăng chúng, nhưng nghiệp lớn chưa thành, nay muốn tu hạnh Đàn ba-la-mật như Tát-đỏa xả thân cho cọp đói, Thi-tì lóc thịt đùi cho chim bồ câu, làm cá lớn, núi thịt… trong kinh đều có ghi chép đầy đủ. Nay con nguyện theo bậc thánh trước, dám làm người đi sau. Tất cả y phục và vật dụng xin được xử lí theo lời Phật dạy!
Bấy giờ đại chúng mới hay sư đã xả thân thị tịch.
96.4. KỆ VƯƠNG TỬ TÁT-ĐỎA XẢ THÂN

About namcuulong

Check Also

thap-phat1

PUCL QUYỂN 97 – CHƯƠNG TỐNG CHUNG

ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *