Home / Pháp Uyển Châu Lâm / PUCL - Tập 7 / PUCL QUYỂN 95 – CHƯƠNG BỆNH KHỔ
chua-long-son

PUCL QUYỂN 95 – CHƯƠNG BỆNH KHỔ

95.7. CẢM ỨNG
95.7.1. Đời Tấn, Nghị tào chuyên họ Âu: Ông ở Nam quận, bị bệnh nhiều năm, thân thể ốm gầy, chỉ còn da bọc xương, thầy pháp và thầy thuốc đều hết phương chữa trị. Một hôm, người con đang ngủ, mộng thấy các vị sa-môn đến thăm cha mình. Sáng hôm sau, người con đến chùa gặp các vị sa-môn và hỏi:
– Phật là vị thần gì?
Các vị sa-môn nói rõ sự việc cho người con nghe. Nghe xong, người con liền thỉnh các sa-môn về nhà tụng kinh. Trải qua hai, ba đêm, người cha tự biết bệnh mình có thuyên giảm. Ngày hôm đó ông chợp mắt trong giây lát, mộng như mình ngẩng đầu nhìn ra ngoài, thấy mấy chục đứa trẻ mặc áo năm màu, trong tay cầm phướn, đao và giáo từ cửa đi vào. Hai đứa trẻ đi trước, chạy thẳng đến trước rèm, bỗng chạy vụt ra nói với các đứa trẻ sau: “Dừng lại! Dừng lại!”, trong nhà toàn là sa-môn. Các đứa trẻ liền bỏ đi, không còn trở lại nữa. Từ đó về sau, bệnh ông dần dần lành hẳn.
95.7.2. Đời Tấn, Viên Vô Kị: Ông người nước Trần, nhưng cư ngụ ở Đông Bình. Niên hiệu Vĩnh Gia thứ nhất (307) đời Tấn, bị bệnh dịch hoành hành, nhà ông hơn một trăm người, mà bị chết gần hết ông tạm tránh nạn tại một thôn nọ, cùng ở với một người khác trong căn phòng nhỏ. Hằng đêm hai anh em cùng ngủ trên tấm ván gỗ được trải nhiều lớp cỏ. Đêm nằm ngủ không biết gì, đến sáng thức dậy thấy tấm ván gỗ ở ngoài cửa. Cứ nhiều đêm như thế, hai anh em sợ hãi không ngủ được.
Một hôm, có người phụ nữ đến đứng trước cửa nhưng thây Viên Vô Kị chưa ngủ, nên liền bước ra ngoài. Lúc ấy trời chưa sáng, nhưng nhờ ánh trăng chiếu, nên Kị nhìn thấy một phụ nữ mặc áo lụa màu trắng chỉnh tề, trên đầu cài trâm hoa, thoa bạc và chiếc lược bằng ngà voi. Viên Vô Kị liền đuổi theo, lúc đầu chạy quanh nhà bốn vòng thì tóc, trâm hoa trên đầu rơi xuống đất, Kị đều nhặt lấy. Sau đó, bà chạy ra cửa phía nam, bên đường có một cái giếng, bà liền nhảy xuống, Kị trở về ngủ.
Sáng hôm sau thấy trâm hoa, thoa bạc và lược ngà voi đều là đồ thật. Đào giếng lên thì thấy một quan tài, nước ngập ba phân, Kị liền mang quan tài, y phục và các vật về chôn nơi khô ráo thì bệnh dịch liền hết.
95.7.3. Đời Tấn, sa-môn Khang Pháp Lãng: Sư du học ở Trung Sơn. Khoảng niên hiệu Vĩnh Gia (307-313), sư cùng một vị tỳ-kheo đi về phương tây, vượt qua sa mạc hơn nghìn dặm đến Thiên Trúc. Trên đường đi, sư thấy một ngôi chùa Phật bên đường bị hư hoại, không có điện thờ, cỏ lau mọc um tùm, chẳng có người trồng. Sư cùng pháp lữ đến đỉnh lễ, thấy hai vị tăng, mỗi người một phòng, một người đang tụng kinh còn người kia bị bệnh lị, phẩn tiểu đầy phòng. Người tụng kinh không hề chăm sóc người bệnh. Sư cùng người bạn thương xót, nấu cháo, quét dọn và tắm rửa cho vị ấy.
Đến ngày thứ sáu, bệnh vị ấy càng trầm trọng, đại tiện tuôn như suối. Đêm đó, sư cùng bạn lo liệu, chữa trị, chăm sóc, nghĩ rằng vị ấy không sống đến ngày mai. Nhưng sáng hôm sau, sư đến xem, thấy sắc mặt người bệnh tươi tỉnh, vui vẻ, bệnh cũ cũng không còn, trong phòng những đồ phẩn uế đều biến thành hoa thơm. Sư và pháp lữ mới biết đây là bậc đắc đạo đến thử lòng người. Bấy giờ vị ấy nói:
– Vị tì-kheo phòng bên cạnh là thầy của tôi. Người đã đắc đạo từ lâu, các ông nên đến đỉnh lễ.
Sư cùng bạn trước đó trách vị sa-môn ấy không có lòng từ bi, nay nghe như vậy liền đến đỉnh lễ sám hối. Vị ấy bảo:
– Các ông thật có lòng chí thành, nên đều sẽ được đạo. Nhưng Pháp Lãng đời trước tu học còn nông cạn, nên đời nay chưa được như nguyện.
Vị ấy quay sang bảo người bạn của sư:
– Tuệ Nhược trồng căn lành sâu dày, nên đời này sẽ được như nguyện.
Nói rồi, vị ấy mời người bạn ở lại, còn Pháp Lãng sau đó trở lại Trung Sơn làm đại pháp sư, đạo tục đều tôn kính.
95.7.4. Đời Tấn, An Tuệ Tăc: Sư ở chùa Đại Thị không biết họ gì, lúc nhỏ bẩm tính khác thường, tài trí vượt mọi người, rất giỏi viết kiểu chữ khải, chữ chân và đàm luận.
Vào khoảng niên hiệu Vĩnh Gia (307-313) đời Tấn, khắp nơi bị bệnh dịch, sư chí thành cầu khẩn ngày đêm, nguyện đại thánh ban thuốc để chữa bệnh cho muôn dân. Một hôm, sư ra cổng chùa thấy hai tảng đá hình dáng như chiếc vò, sư nghi là vật lạ, nên lấy xem, quả thật bên trong có nước thần, người bệnh uống vào đều lành.
Sau đó, sư ở chùa Đại Thị tại Lạc Dương, tự tay chép bộ kinh Đại phẩm Bát-nhã trên tấm lụa mịn màu vàng nhạt, vừa đủ một quyển, chữ nhỏ như hạt đậu, nhưng rất rõ ràng, mọi người đọc được. Sư chép tất cả hơn mười bản, trao cho Hồ Mầu, vợ của Chu Trọng Trí ở Nhữ Nam tụng đọc cúng dường. Khi Hồ Mầu qua sông theo nhà Đông Tấn, bà cũng mang bản kinh theo bên mình. Một thời gian sau, nhà bị hỏa hoạn, vì quá gấp nên không kịp lấy bản kinh, bà buồn bã khóc lóc. Sau khi lửa tắt, bà bới tro thì tìm được bản kinh, màu sắc, bìa, trục đều còn nguyên vẹn. Bấy giờ, tất cả những người thấy nghe đều bỏ tà đạo, tin theo chính pháp. Bản kinh này hiện do ni Tĩnh Thủ ở chùa Giản Tĩnh giữ gìn.
95.7.5. Đời Tấn, Trúc Pháp Nghĩa: Sư thích ở chốn núi rừng, rất ham học. Sư trụ tại núi Thỉ Ninh, sau đó bị bệnh một thời gian lâu, tìm đủ mọi cách chữa trị mà bệnh không thuyên giảm. Đến lúc bệnh tình nguy cấp, không thể tự chữa trị, sư chỉ thành tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm suốt mấy ngày. Một hôm nằm mộng, sư thấy vị đạo nhân đến xem bệnh, rồi chữa trị cho mình. Đạo nhân mổ bụng sư lấy lục phủ ngũ tạng ra rửa sạch. Sư thấy những vật bất tịnh kết tụ trong đó rất nhiều, rửa xong, đạo nhân cho vào bụng sư, và nói:
– Bệnh ông đã lành!
Lúc sư thức dậy thì bệnh đã lành. Niên hiệu Thái Nguyên thứ bảy (382) đời Tấn, sư thị tịch.
95.7.6. Đời Tống, bà họ Phí, vợ của La Dư: Bà người Ninh Thục, cha tên là Duyệt làm Thứ sử Ninh châu. Lúc nhỏ, bà rất kính tin Tam bảo, tụng kinh Pháp hoa nhiều năm, siêng năng không biết mệt mỏi. Một thời gian sau, bà bị bệnh nặng, trong tim đau buốt, chỉ biết phó thác cho số mạng. Cả nhà lo sợ, chờ bà ấy chết. Bấy giờ bà suy nghĩ: “Ta siêng năng tụng kinh Pháp hoa, chắc sẽ có thiện thần giúp đỡ, nếu không có thì chác chết”.
Sau đó, bà chợp mắt trong khoảng bữa ăn, nửa mộng nửa tỉnh, thấy Đức Phật ở trong cửa sổ đưa tay xoa tim bà, lập tức hết đau. Lúc đó mọi người trong nhà đều thấy ánh sáng màu vàng và nghe hương thơm. Em gái chú bác của bà là tằng tổ bên ngoại của Diễm, phu nhân của Thượng thư trung binh bộ Phí Âm, đang thăm bệnh cũng ngửi thấy. Thế là người này tự ngộ, phát khởi lòng tin chính pháp, giữ giới nghiêm cẩn đến lúc mạng chung. Họ thường lấy điềm lành này để khuyên răn, dạy dỗ con cháu.
95.7.7. Đời Tống, Vương Văn Minh: Niên hiệu Thái Thỉ cuối cùng (472) đời Tông, ông làm huyện lệnh Giang An. Vợ ông bị bệnh lâu ngày, đứa con gái nấu cháo cho mẹ, lúc sắp chín thì cháo biến thành máu. Đứa con gái đổ bỏ, rồi nấu lại, cũng giống như lần trước. Nấu đi nấu lại nhiều lần cũng đều như thế. Sau đó, người mẹ qua đời, đứa con gái quì trước linh cữu khóc lóc, bỗng thấy mẹ hiện về nằm trên linh sàng, tướng mạo như lúc đang sống; con cháu thương cảm gào khóc, bà lặng lẽ biến mất. Vương Văn Minh rất thương một nô tì của vợ, người này mang thai sắp sinh. Ngày đưa vợ đi chôn, nô tì này ở lại trông nhà, còn tất cả mọi người đều đưa tiễn. Khi vừa khiêng quan tài ra, thì người vợ hiện hình đi thẳng vào nhà đánh đứa tớ gái.
Sau đó, những đứa con gái giết gà làm thức ăn cho cha, lúc mổ ra và rửa xong, bỗng nhiên con gà nhảy lên mái hiên đứng kêu, Vương Văn Minh liền qua đời. Sau đó những người con trai cũng lần lượt chết.
95.7.8. Đời Tống, Lý Thanh: Ông người Ư Tiềm, Ngô Hưng, làm Tham quân Đốc hộ cho Đại tư mã Hoàn Ôn. Một thời gian sau mắc bệnh, ông liền trở về nhà rồi qua đời, nhưng trải qua một đêm thì sống lại và nói: “Lúc đầu tôi gặp một người truyền giáo cầm tín phan nói với tôi là Công muốn gặp. Tôi cho là Ôn triệu kiến, liền chỉnh trang y phục rồi đi. Khi ra khỏi cửa thì thấy một chiếc kiệu bằng trúc, hai người kéo tôi lên rồi đẩy nhanh như ngựa phi. Khi đến một tòa nhà cao lớn thì gặp Nguyễn Kính, lúc đó Nguyễn Kính đã chết ba mươi năm. Kính hỏi tôi:
– Ông đến đây bao giờ? Nhà tôi thế nào?
Tôi nói:
– Nhà ông làm nhiều việc ác.
Kính khóc như mưa và hỏi:
– Con cháu tôi thế nào?
Tôi đáp:

About namcuulong

Check Also

thap-phat1

PUCL QUYỂN 97 – CHƯƠNG TỐNG CHUNG

ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *