Home / Pháp Uyển Châu Lâm / PUCL - Tập 6 / PUCL QUYỂN 76 – CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

PUCL QUYỂN 76 – CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

QUYỂN 76
Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
84.8. NÓI LỜI THÔ ÁC

84.8.1. Lời dẫn
Lửa sân hận của hàng phàm phu lúc nào cũng hừng hực, hễ gặp điều kiện liền bùng cháy, vấp phải nghịch cảnh liền nổi sân. Vì thế, hễ buông lời liền giận dữ, mở miệng đốt cháy lòng, làm tốn thương người khác, đau đớn hơn dao cắt. Như thế, đã trái với thiện tâm của bồ-tát, mà còn nghịch với lời dạy từ ái của Đức Phật.
Kinh Nghiệp báo sai biệt có bài kệ:
Lời thô xúc não người Bới móc chuyện riêng tư Ngang bướng khó điều phục Làm quỉ đói ngậm lửa.
84.8.2. Dần chứng
Luận Đại trí độ ghi: “Có một con quỉ đói, đời trước làm người, thường nói năng thô lỗ, dùng lời hung ác quở mắng chúng sinh, nên bị chúng sinh oán ghét, xem như kẻ thù. Do tội báo này, nên sau khi chết, người ấy đọa vào loài quỉ đói”.
Kinh Pháp cú ghi: “Dù làm sa-môn nhưng không giữ thân, miệng, luôn nói lời thô lỗ, làm tổn thương nhiều người, thì người ấy chẳng những không được mọi người quí mến mà Đức Phật, các bậc hiền thánh và những người có trí đều không thương xót. Sau khi qua đời, người ấy bị luân chuyển trong ba đường ác, sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, đau khổ vô cùng. Nếu chúng sinh nào đù thân không có lỗi, nhưng do không giữ gìn khẩu nghiệp thì cũng bị đọa vào đường ác”.
Luận Đại trí độ ghi: “Bấy giờ có một con quỉ, đầu giống đầu heo, dòi từ trong miệng bò ra, nhưng thân có ánh sáng màu vàng ròng. Con quỉ này đời trước là một tì-kheo, vì dùng lời thô ác quở mắng tì-kheo khách, nên đời này bị dòi từ trong miệng bò ra, nhưng nhờ giữ giới thanh tịnh, nên thân có ánh sáng màu vàng ròng”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thà dùng kiếm bén cắt đứt lưỡi mình, chứ đừng bao giờ nói lời thô ác mắng chửi người khác, để phải bị đọa vào ba đường”.
Kinh Hộ khẩu ghi: “Vào thời quá khứ, Đức Phật Ca-diếp xuất hiện ở đời, giảng nói giáo pháp. Khi việc giáo hóa đã hoàn mãn, Ngài vào cảnh giới Vô dư niết-bàn. Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, có một vị tì-kheo tinh thông ba tạng, tên là Hoàng Đầu, chúng tăng nói với tì-kheo này: ‘Những việc vụn vặt, thầy khỏi phải làm, chỉ xin thầy lo giảng dạy diệu pháp cho hàng hậu học’.
Bấy giờ, tuy trong lòng khinh miệt, nhưng tì-kheo thông ba tạng không thê làm trái lệnh của tăng, bất đắc dĩ phải diễn giảng nghĩa kinh cho hàng hậu học, nhưng trong lúc giảng kinh, ông lại gọi người học: ‘Kẻ đầu voi kia hãy mau bước lên phía trước!’. Cứ như thế lần lượt ông gọi người khác là đầu ngựa, đầu lạc đà, đầu heo, đầu dê, đầu sư tử, đầu hổ. ông gọi những người nghe pháp bằng tên các loài thú như thế nhiều không sao kể hết.
Vì thế, tì-kheo Hoàng Đầu tuy giảng nói nghĩa kinh, nhưng không tránh khỏi tội báo. Sau khi qua đời, ông bị đọa vào địa ngục mấy nghìn vạn kiếp, chịu khổ vô cung. Do chưa hết tội, nên sau khi ra khỏi địa ngục, ông sinh vào trong biển lớn, làm loài thủy tộc có thân hình to lớn và trăm đầu. Các loài khác trông thấy, đều tránh xa”.
Kinh Xuất diệu ghi: “Thuở xưa, khi Đức Phật còn ở đời, có lần tôn giả Mãn Túc đến cảnh giới ngạ quỉ, thấy một con quỉ đói, hình thù xấu xí, ai thấy cũng phải sợ hãi. Thân nó bốc cháy hừng hực như đống lửa lớn, dòi từ trong miệng bò ra, máu mủ chảy tràn, mùi hồi xông lên, không ai dám đến gần. Có lúc miệng nó phóng ra ngọn lửa xa vài mươi trượng. Có lúc mắt, tai, mũi, thân, tay, chân phóng ra ngọn lửa xa vài mươi trượng. Miệng dốc ngược giống như mõm heo rừng, thân cao to một do-tuần. Nó tự lấy tay tát vào mặt, gào khóc thảm thiết, chạy khắp đó đây.
Thấy vậy, tôn giả Mãn Túc hỏi:
– Ngươi đã tạo tội gì mà nay phải chịu cảnh khổ như vậy?
Quỉ đói thưa:
– Xưa kia tôi xuất gia, vì luyến tiếc phòng ốc, tham lam không xả bỏ; ỷ mình thuộc dòng dõi quý tộc nói năng thô lỗ, độc ác. Hễ thấy tì-kheo giữ giới, nỗ lực tu hành thì lại nhục mạ, hoặc trề môi, nheo mắt, hoặc nói phải, nói trái, vì những nguyên nhân đó mà chịu nỗi khổ này.
Thế nên, thà lấy dao bén tự cát đứt lưỡi mình để chịu khổ nhiều kiếp, chớ đừng bao giờ mắng chửi, chê bai tì-kheo nỗ lực tu hành, giữ giới nghiêm mật.
Quỉ đói lại thưa tôn giả Mãn Túc:
– Khi tôn giả trở về nhân gian nên đem hình ảnh của tôi mà răn nhắc các tì-kheo, khuyên mọi người nên giữ gìn nghiệp của miệng, chớ nói lời hư dối. Nếu thấy có người giữ giới thì nên khen ngợi công đức của người đó. Từ khi tôi mang thân quỉ đói này đến nay đã trải qua mấy nghìn vạn năm, luôn luôn chịu khổ sở như thế này. Vừa bỏ thân này thì ngay lập tức đọa vào địa ngục.
Nói xong, quỉ đói gào khóc thảm thiết, ngã xuống đất như núi Thái sụp đổ, như trời long đất lở.
Những quả báo như thế đều do lỗi của miệng gây ra! .
Kinh Bách duyên ghi: “Người vợ của trưởng giả nọ khi mang thai, thân thể hôi hám, không ai đến gần. Đến kì khai hoa nở nhụy, bà sinh ra một bé trai như bộ xương, ốm gầy, không ai dám nhìn, phân tiểu chảy ra khắp thân. Lớn lên, đứa bé không muốn ở nhà, chỉ thích ăn phân nhơ, không chịu chừa bỏ. Cha mẹ và những người thân đều chán ghét, không muốn nhìn mặt, nên cho đứa bé ở riêng trong một ngôi nhà cách họ rất xa. Được sống bên ngoài, đứa bé tha hồ ăn phân. Mọi người thấy vậy, gọi đứa bé là Đạm-bà-la. Sau, đứa bé gặp Phật, xuất gia, tu hành, chứng quả A-la-hán.
Đó là do vào thời Phật Câu-lưu-tôn, đứa bé là một vị xuất gia, trụ trì một ngôi chùa. Bấy giờ, có Phật tử tại gia cúng dầu thơm để chúng tăng xoa thân sau khi tắm rửa, trong chúng lại có một vị đã chứng quả A-la-hán. Vị trụ trì biết được việc nhận dầu xoa thân,’ nên tức giận mắng vị a-la-hán: ‘Ông là người xuất gia mà còn dùng dầu thơm xoa thân thể, thì chẳng khác gì dùng phân người bôi lên thân’.
A-la-hán cảm thương vị trụ trì nên hiện thần thông. Vị trụ trì thấy thế liền thành khẩn sám hối, mong trừ diệt được tội chướng.
Do tạo nghiệp ác quở mắng như thế, nên vị này trải qua năm trăm đời, thân thường hôi thối, không ai dám đến gần, nhưng nhờ thuở xưa xuất gia và đã tha thiết sám hối vị a-la-hán, nên nay được gặp Phật, xuất gia, đác đạo. Vì thế, chúng sinh nên giữ gìn khẩu nghiệp, chớ máng chửi, nhục mạ người khác”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Lúc còn tại thế, có lần Đức Phật cùng với các tì-kheo đến thành Tì-xá-li. Khi đến bên sông Lê-việt, Ngài thấy những người đánh cá giăng lưới, bắt được một con cá rất lớn, thân có trăm đầu, năm trăm người kéo vẫn không lên được. Khi ấy, có năm trăm người chăn bò bên bờ sông cũng đến phụ kéo cá lên, nhờ sức cả nghìn người mới kéo được con cá lên bờ. Thấy con cá quái lạ, mọi người kéo nhau đến xem.
Cùng các tì-kheo đi đến chỗ cá, Đức Phật hỏi:
– Ngươi có phải là Ca-tì-lê không?
Con cá đáp:
– Thưa phải!
Ngài lại hỏi:
– Thầy của ngươi hiện đang ở đâu?
Con cá đáp:
– Thầy tôi đã bị đọa vào địa ngục A-tì rồi.
Lúc ấy, tôn giả A-nan chứng kiến và nghe qua câu chuyện, lấy làm lạ mới thưa Phật:
– Bạch đức Thế Tôn! Chuyện này là thế nào?
Đức Phật bảo tôn giả A-nan: – Xưa kia, vào thời Phật Ca-diếp, có bà-la-môn sinh được một bé trai, đặt tên là Ca-tì-lê. Ca-tì-lê thông minh, nghe nhiều, hiểu rộng. Sau khi cha Ca-tì-lê qua đời, một hôm, người mẹ hỏi:
– Con tài giỏi như thế trên đời này có ai giỏi hơn con không?
Người con thưa:
– Các sa-môn giỏi hơn. Con đến hỏi những điều nghi ngờ, họ đều giải thích rõ; nhưng nếu họ hỏi thì con không trả lời được.
Người mẹ hỏi con:
– Sao con không theo học pháp của các sa-môn?

About namcuulong

Check Also

PUCL QUYỂN 82 – CHƯƠNG LỤC Độ (tt)

QUYỂN 82 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC Độ (tt) 85.2. ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *