Home / Pháp Uyển Châu Lâm / PUCL - Tập 3 / PUCL QUYỂN 35 – CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG

PUCL QUYỂN 35 – CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG

– Ngài là bậc đại trí, sao lại nói những lời thô như vậy? Đúng là chư Phật từ bi không đắp y lụa, nhưng y lụa này do biến hóa ra chứ đâu phải hại sinh mạng. Ông nên nhận hộp châu này và mở ra, trong ấy có chữ viết.
Ta liền nhận hộp châu và mở ra, thấy những việc kì dị như trong hộp chứa tạng luật, tạng kinh, lời di chúc của Phật Ca-diếp, tăng-già-lê, dấu tay của Phật, di thư phó chúc thụ thần trao hộp cho Ta. Trong thư Phật Ca-diếp ghi: ‘Lúc mới thành Phật, Đại Phạm thiên vương cúng cho Ta y lụa, đây là vật biến hóa ra chứ không phải dệt bằng tơ tằm. Phạm thiên vương cúng tơ dọc, địa thần Kiên Lao cúng sợi tơ ngang. Dùng tơ của hai vị thí chủ này- dệt thành một pháp y. Vì ý nghĩa đó, nay đem dâng cúng cho Ta. Từ khi Ta thành Phật đến nay, thường đắp y này và giữ gìn không để bị hư rách. Nay Ta trao lại cho Tât-đạt-đa. Sau khi ông thành Phật hãy an trí tăng-già-lê của Ta ở tinh xá Kì-hoàn. Lúc ông nói tì-ni9 nên vì Ta mà đắp y này. Nay Ta để lại y này, sau khi ông nhập niết-bàn, trong một trăm năm đầu, các tì-kheo vô trí phân tạng luật ra thành năm bộ. Sau một trăm năm ấy, họ lại phân Tu-đa-la của ông thành vô lượng bộ. Từ đây mà phát sinh tranh luận, khiến cho chính pháp mau diệt. Vì những vị tăng ngu kia không tinh thông kinh, luật, luận, nghe khai cho đắp y lụa liền giết hại loài tằm lấy tơ. Sau khi ông thành đạo, tơ kia tự xuất hiện ở các nước, chẳng phải giết hại loài tằm, nên Ta gửi thụ thần y lụa này, nay trao lại cho ông. Trong hộp này đều chứa đựng di pháp của Ta, nay cũng trao cho ông giữ gìn’.
Lúc ấy Ta nói:
– Ta đọc thư xong, mặt đất chấn động sáu cách, hộp châu tự mở ra và phóng ánh sáng rực rỡ.
Lúc ấy, thụ thần lại bảo Ta:
– Ông nên đặt hộp y này lên vai trái và luôn luôn cung kính, chớ đặt ở chỗ khác. Hộp châu ở trên vai có thể tiêu diệt chúng ma và hàng phục ngoại đạo, giúp ông mau thành Phật quả.
Ta nói:
– Từ khi Ta nhận hộp châu đó đến nay, luôn đặt trên vai, cho đên khi nhận bát cháo sữa. Khi Ta ngồi bên gốc bồ-đề, Đế Thích đến mở hộp châu trên vai, lấy tăng-già-lê dâng lên bảo Ta đắp. Đế Thích lại lấy tăng-già-lê bằng vải thô của cổ Phật Ca-diếp đắp chồng lên y lụa. Phạm thiên vương tiếp theo sau Đế Thích, đến cúng dường đại y bằng vải thô, Ta nhận lấy và đắp thành ba lớp. Hai y của Phật Ca-diếp truyền lại, còn một y là do Ta thụ nhận.
Khi đó, Đại Phạm thiên vương đến thưa:
– Con thấy chư Phật đời quá khứ, khi đắp ba đại y thì mặt đất không chịu đựng nổi, Thế Tôn nên cởi hai đại y kia ra, an trí lại chỗ cũ, chỉ đắp y của con cúng dường thì mặt đất mới an định.
Ta liền làm theo lời của Đại Phạm Thiên vương thì quả nhiên đại địa an trụ.
Đức Phật Thích-ca từ khi mới thành đạo đến lúc nhập niết-bàn, chỉ đắp tăng-già-lê bằng vải thô và ba y bằng vải trắng, chưa từng đắp y dệt bằng tơ tằm. Vì sao các ác tì-kheo oán hận, phỉ báng: ‘Trong tạng tì-ni cho phép đắp y bàng tơ lụa’. Lúc Ta mới thành đạo, tì-kheo ni Đại Ái Đạo dâng cúng ca-sa may chỉ vàng, Ta không dám nhận và bảo đem cúng cho Tăng Huống gì Ta là đạo sư của ba cõi lại đắp y dệt bằng tơ tằm. Trong ba tạng giáo, tuy cho phép dùng lụa màu cúng dường Phật, pháp và tăng, nhưng tơ lụa không được lấy từ miệng tằm. Châu Diệm-phù của Ta đây và các châu lớn khác, gồm một nghìn tám trăm nước lớn, đều có tơ lụa, nhưng đều lấy từ miệng người nữ, chẳng phải lấy từ miệng tằm. Do không sát hại sinh mạng chúng sinh, nên cảm được phúc báo tơ từ miệng người nữ sinh ra.
Hỏi: Làm sao biết được?
Đáp: Nếu muốn có tơ để dệt vải thì phải đến bên cây dâu đốt hương cầu nguyện. Bấy giờ sẽ có hai người nữ khoảng chừng tám tuổi xuất hiện, từ miệng nhả tơ. Người trong những nước kia chỉ cần tạo khung cửi, đưa tơ từ miệng người nữ vào khung, khi dệt đủ rồi thì hai người nữ biến mất. Ta cho phép đắp y dệt bằng tơ, chính là loại tơ của người nữ này và loại tơ của trời. Vì dùng những loại tơ ấy may y, không làm tồn hại mạng chúng sinh. Sao lại trách Ta hại mạng chúng sinh để lấy lụa dùng?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
– Nay con có chút việc chưa rõ muốn hỏi Thế Tôn, không biết Ngài cho phép không?
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù:
– Cho phép ông hỏi. Ta cũng thấy mọi người đang nghi ngờ.
Bồ-tát Văn-thù thưa:
– Như trước đã nói, Phật Ca-diếp có một hộp ngọc nhỏ dài ba tấc ba phân, chỉ một tăng-già-lê kia e rằng chứa không đủ, huống gì chứa tất cả kinh điển trong ba tạng giáo của Phật Ca-diếp?
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù và mọi người:
– Thần lực của chư Phật không thể nghĩ bàn, chỉ có Phật với Phật mới biết được mà thôi, các ông chẳng thể suy lường được.
Đức Thế Tôn lại bảo bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bưng hộp ngọc lên, Ngài đỉnh lễ và đưa tay chạm vào, hộp châu phát ra tiếng vang như mở cửa thành lớn. Mọi người đều thấy tháp châu, y lụa và mười vạn tòa cung điện bằng vàng bạc, chứa đựng tất cả tam tạng, luôn có nhạc trời cúng dường. Đài cao bốn mươi dặm, tháp cao mười do-tuần, nhưng hộp châu vẫn y nguyên ba tấc ba phân, không tăng không giảm. Đức Phật ở mười phương đều đến khen ngợi Phật Thích-ca Mâu-ni ở đời ác mà độ khắp chúng sinh. Rồi mỗi vị đem tăng-già-lê và hộp châu của mình cúng dường Phật Thích-ca để giúp tôn giả Mâu-ni giữ gìn giáo pháp.
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù mở tất cả hộp châu của các Đức Phật kia, thấy trong mỗi hộp đều có đại y, đài lớn và ba tạng giáo pháp, giống như tháp của Đức Phật Ca-diếp.
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù:
– Ông đem tháp này đến tinh xá Kì-hoàn, đặt trong đài phía bắc giới đàn, đợi sau khi Ta nhập niết-bàn, tự nhiên có người để giáo phó._ Nhân đó, bồ-tát Văn-thù hỏi Đức Phật:
– Sau khi đức Thế Tôn nhập niết-bàn, những hộp tháp này giao lại cho ai và đặt ở đâu?
Thế Tồn nói với đại chúng:
– Những hộp tháp này, nay Ta giao lại cho bồ-tát Văn-thù an trí trên giới đàn; ba năm sau, dời sang góc phía đông nam ba mươi năm. Sau đó lại dời sang phía nam hồ Quang Minh trên đỉnh núi Tần-già-la, Tây Ấn Độ.
Sau khi Như Lai nhập diệt bốn mươi lăm năm, có ông vua bạo ác ra đời, phá hoại Phật pháp và giết hại tăng ni không thể tính hết. Lúc ấy có quân binh của ma vương và trời Tứ thiên vương v.v.. lăn đá lớn đè chết vua bạo ác kia. Long vương Sa-kiệt đào phá cung điện thành sông lớn. Thế là vua bạo ác và dòng tộc đều chết, chỉ còn chùa viện, nhân dân. Bấy giờ người ở Tây Ấn Độ lại xiển dương Phật pháp cực thịnh. Toàn quốc có mười ba vạn ngôi chùa, sáu mươi vạn tăng, vô lượng bồ-tát, mười ba vạn tạng kinh; kinh bằng sợi vàng đến tám vạn tạng. Tượng Phật, bồ-tát lớn

About namcuulong

Check Also

PUCL QUYỂN 37 – CHƯƠNG KÍNH PHÁP

QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *