Home / Pháp Uyển Châu Lâm / PUCL - Tập 3 / PUCL QUYỂN 35 – CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG

PUCL QUYỂN 35 – CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG

Vợ chồng thương con nên không ngăn cản, họ dẫn Bạch Tịnh đến chỗ Phật xin cho xuất gia. Phật nói:
– Thiện lai tì-kheo ni!
Tóc cô liền tự rụng, thân mặc pháp phục, thành ti-kheo ni. Sau đó, cô siêng năng tu tập, chứng quả A-la-hán, được chư thiên người đời kính ngưỡng.
Các tì-kheo thấy vậy, hỏi Phật. Đức Phật dạy:
– Vào thời quá khứ xa xưa, có Đức Phật Già-na Mâu-ni ra đời, dẫn các tì kheo đi giáo hóa. Lúc ấy có một vương nữ gặp Phật, sinh tâm vui mừng, đến đỉnh lễ chân Phật, rồi thỉnh Phật và tăng thụ nhận cúng dường tứ sự trong ba tháng, lại cúng dường cho mỗi vị một tấm y đẹp. Nhờ công đức này, dù sinh lên cõi trời hay trong loài người, cô đều được tôn quí và giàu sang, lúc sinh ra đều có ca-sa bọc thân.
Đức Phật bảo các tì-kheo: ‘Vương nữ ấy nay chính là tì-kheo ni Tôn-đà-lợi’. Các tì-kheo nghe xong đều hoan hỉ phụng hành”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Phật còn tại thế, phu nhân của vua Ba-tư-nặc sinh một bé trai khồi ngô, tuấn tú ở đời hiếm có. Mới sinh ra đứa bé đã có ca-sa bọc thân và biết nói. Đứa bé hỏi vua cha:
– Như Lai Thế Tôn hiện nay còn ở đời không? Các đại đức Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên… còn ở đời không?
Cha mẹ đáp: – Họ đều còn ở đời!
Đứa trẻ thưa:
– Xin đại vương vì con mà thỉnh Phật và chúng tăng thiết trai cúng dường!
Khi Đức Phật vào cung thấy thái tử, liền hỏi:

– Ngươi nhớ lại, có phải là tì-kheo Tam Tạng ở thời Phật Ca-diếp không?
Thái tử đáp:
– Bạch Thế Tôn! Đúng vậy.
Phật hỏi:
– Ngươi ở trong thai có an ổn không?
Thái tử thưa:
– Nhờ ân Phật, nên trong thời gian đó tính mạng con cũng được an ổn.
Vua và phu nhân thấy thái tử đối đáp với Phật, vô cùng vui mừng, liền bạch Phật:
– Thái tử kiếp trước tạo phúc gì mà mới sinh ra đã biết nói và có thể đối đáp với Ngài? Cúi xin Thế Tôn giải bày cho!
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ cho vợ chồng vua nghe:
Quá khứ tạo duyên lành
Trăm kiếp sau không mất
Vì gieo trồng nhân lành
Nay được quả bảo này.
Trong kiếp Hiền có Đức Phật Ca-diếp ra đời, Ngài dẫn các tì-kheo đi giáo hóa tại nước của vua Ca-sí. Thái tử Thiện Sinh thấy Phật, sinh lòng kính tin, trở về cung thưa với đại vương xin xuất gia. Vua không cho và nói:

– Ta chỉ có một mình con kế vị, trị vì dân chúng, không thể cho xuất gia được!
Thái tử nghe xong, buồn rầu sinh bệnh, bỏ ăn bỏ uống suốt sáu ngày liền. Vua sợ thái tử sẽ chết, nên giao ước với thái tử: ‘Nếu con tụng thuộc làu ba tạng kinh, ta sẽ cho con xuất gia!’.
Thái tử nghe xong, vô cùng vui mừng, liền xuất gia. Sau đó, thái tử học thuộc làu ba tạng kinh. Vua rất hoan hỉ, nói với thái tử:
– Nay tài vật trong kho của ta, tùy ý con sử dụng, ta hoàn toàn không tiếc.
Tì-kheo vương tử nghe vậy, lấy tiền mua thức ăn trăm vị, thiết trai thỉnh Phật Ca-diếp và hai vạn tì-kheo và cúng dường cho mỗi tì-kheo ba y, sáu vật. Do công đức này mà người ấy không sinh vào đời ác, dù ở cõi trời hay cõi người, lúc mới sinh ra có ca-sa đắp thân, cho đến hôm nay gặp Tạ, xuất gia đắp ca-sa, tu hành đắc đạo.
Các tì-kheo nghe xong đều hoan hỉ phụng hành”.
30.6. HỦY PHẠM
Kinh Hiền ngu ghi: “Vào thời quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp ở cõi Diêm-phù-đề này, vua Đề-tì thống lĩnh tám vạn bốn nghìn nước nhỏ. Bấy giờ, ở đời không có Phật, nhưng có một bích-chi phật trú trong rừng sâu. Vị này dùng đức cứu độ chúng sinh, nên cầm thú cũng đến nương ở. Lúc ấy, trong núi có con sư tử Kiên Thệ, toàn thân màu vàng, chỉ ăn trái cây, rau cỏ, không làm hại quần sinh. Có một thợ săn, cạo râu tóc, đắp ca-sa, giấu cung tên trong người, rồi vào rừng. Vừa thấy sư tử, ông ta liền nghĩ: ‘Ta có thể giết con sư tử này lấy da dâng lên vua, đủ để thoát cảnh nghèo túng’. Nhân lúc sư tử đang ngủ, người thợ săn dùng tên độc bắn, sư tử tỉnh dậy, nhảy đến định vồ người thợ săn, nhưng thấy ông đắp ca-sa nên nghĩ: ‘Người đắp ca-sa ở đời không lâu sẽ được giải thoát. Bởi vì ca-sa này chính là biểu hiện của ba đời chư Phật. Nếu ta hại người này cũng chính là có ác tâm với các hiền thánh ba đời!’.
Nghĩ thế, nên sư tử không làm hại thợ săn. Lúc đó, độc đã thấm vào thân, biết không còn sống bao lâu, sư tử liền nói: ‘Na la la bà xà sa, tóa ha
Khi sư tử nói bài kệ ấy, trời đất chấn động, trời không có mây nhưng lại đổ mưa, chư thiên nhìn thấy rải hoa cúng dường. Sư tử chết rồi, thợ săn lột da đem về dâng vua và xin ban thưởng.
Vua thấy da sư tử, thầm suy nghĩ: ‘Trong kinh nói: Nếu cầm thú có thân màu vàng thì đó chính là bồ-tát. Nay ta sao có thể ban thưởng cho người này. Nếu ban thưởng thì ta cũng giống như người kia sao?’. Vua hỏi thợ săn:
– Lúc sư tử chết có điềm gì?
Thợ săn thưa:
– Trước khi chết sư tử nói tám chữ, trời đất chấn động, trời không mây nhưng đổ mưa và chư thiên rải hoa.
Vua nghe người thợ săn nói, trong lòng vui buồn lẫn lộn, liền triệu tập tất cả quần thần để giải nghĩa tám chữ đó, nhưng không ai giải được.
Bấy giờ, vua nghe nói trong núi có tiên nhân Xà-ma rất giỏi tự nghĩa, liền cho người mời đến giảng giải. Tiên nhân giải thích:
– Na-la-la nghĩa là người cạo đầu đắp ca-sa sớm giải thoát sinh tử. Bà-xà-sa nghĩa là người cạo đầu đắp nhiễm y, biểu hiện cho các bậc hiền thánh trong ba đời và gần với niết-bàn. Tóa-ha nghĩa là người cạo đầu đắp nhiễm y, tất cả trời người thấy được đều kính ngưỡng.
Nghe tiên nhân cắt nghĩa xong, vua vô cùng hoan hỉ, triệu tập vua của tám vạn bốn nghìn nước nhỏ cùng làm một xe bảy báu cao lớn chở da sư

About namcuulong

Check Also

Road between Hoi An and Hue

PUCL QUYỂN 37 – CHƯƠNG KÍNH PHÁP

QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *