Home / Pháp Uyển Châu Lâm / PUCL - Tập 3 / PUCL QUYỂN 35 – CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG

PUCL QUYỂN 35 – CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG

31.2.1. Đời Tống, sa-môn Thích Đạo Quýnh: Sư họ Mã, người Phù Phong, trú tại chùa Nam Giản, ở kinh đô. Sư xuất gia làm đệ tử của ngài Đạo Ý. Có lần, ngài Đạo Ý bị bệnh, nên sai sư và ba người khác đến núi Hoắc ở Hà Nam lấy chung nhũ. Bốn người đi vào hang được vài dặm, rồi bước lên một đoạn cây để qua sông, bỗng ba người bị rơi xuống sông chết đuối và bó đuốc cũng tắt. Lúc ấy, sư biết không ai giúp đỡ, nhưng vì thường tụng kinh Pháp hoa, nên chỉ biết nương vào nghiệp lành này và niệm danh hiệu bồ-tát Quan Âm. Bỗng sư nhìn thấy một điểm sáng nhỏ như con đom đóm, sư liền đuổi theo nhưng không kịp, lát sau thì thoát ra khỏi hang.
Từ đó, sư siêng năng tu tập thiền định, phẩm hanh càng thêm cao. Nhiều lần sư mở trai hội Phô Hiền lớn, đều có điềm lành ứng hiện. Hoặc thấy có vị tăng Ấn Độ vào ngồi trong trai hội, hoặc thấy có người cỡi ngựa đến, nhưng chưa kịp chào hỏi thì bổng chốc đã biến mất.
Sau đó, sư cùng với những người bạn đồng học đến kinh đô quan sát phong tục tập quán. Vào một đêm nọ, sư cùng với ba người bạn cùng ngồi trên một tảng băng lớn để qua sông, đến giữa dòng thì tảng băng vỡ, ba người kia rơi xuống sông chết đuối, sư lại chí thành niệm danh hiệu bồ-tát Quán Âm, bỗng có cảm giác như dưới chân có một vật gì đang dao động, lại thấy một đốm sáng đỏ ở phía trước, liền lần theo ánh sáng đó mà vào được bờ.
Khi đến kinh đô, sư trú tại chùa Nam Giản, chuyên tu Ban-chu tam-muội. Có lần, lúc nửa đêm sư nhập định, bỗng thấy bốn người ngồi xe đến phòng và gọi sư lên xe. Sư liền lên xe mà không hề hay biết gì, lát sau thấy mình ở tại Thẩm Kiều phía sau quận. Nơi đây sư thấy một người ngồi trên hồ sàng ở giữa đường, có mấy trăm người đứng hầu. Vị kia thấy sư, liền kinh hãi đứng dậy hỏi: “Ngài là người ngồi thiền sao?”. Rồi xoay qua nói với mọi người xung quanh: “Lúc nãy ta bảo các người đến xem để biết chỗ ở của sư thôi, sao bỗng nhiên làm nhọc lòng pháp sư?”. Người kia lễ bái từ biệt và bảo thuộc hạ đưa sư trở về chùa. Sư gõ cửa một hồi lâu mới có người mở. Vào trong chùa thấy cửa phòng vẫn còn đóng, mọi người đều không biết vì sao!
Niên hiệu Nguyên Gia hai mươi (443), Lâm Xuyên Khang vương Lưu Nghĩa Khánh đưa sư đến Quảng Lăng và thì sư tịch ở đó.
31.2.2. Đời Tùy, sa-môn Thích Pháp Thuần: Sư họ Chúc, người Thỉ Bình, Phù Phong, trú ở chùa Tịnh Tru, Tây Kinh. Sư thích ở trong rừng vắng và cứu giúp người hoạn nạn. Có lần sư thắp đèn trong điện Phật liền cảm ứng đèn sáng liên tục bảy ngày bảy đêm không tắt, dù không châm dầu, thay tim mà lại rực sáng hơn bình thường, mọi người thầm lấy làm lạ, cho là điềm lành của việc diệt tội. Bình dầu để trong điện Phật bỗng nhiên biến mất, đến đêm hôm sau thì nó trở về chỗ cũ và dầu vẫn đầy. Thường vào những đêm thanh vắng, người ta nghe có tiếng thuyết pháp, giảng dạy và có mùi thơm lạ từ khe cửa bay ra ngoài. Có người nghe mùi thơm đến xem thử, nhưng hoàn toàn không thấy gì hết. Những người có hiểu biết thì cho rằng do thần linh nhóm họp.
Đến niên hiệu Nhân Thọ thứ ba (603), cảm thấy thân không khỏe, sư đóng thất tọa thiền, thấy không có chỗ nào đau đớn cả. Lúc ấy có đứa trẻ mặc áo trắng bưng đèn đứng hầu bên phải sư. Đệ tử Tuệ Tấn vào hỏi:
– Đây là ai?
Sư đáp:
– Đây là vị trời Lục Dục nhiều lần đến thỉnh ta, nhưng vì chư thiên đắm trước dục lạc nên ta không chấp nhận, vì nó làm chướng ngại việc tu học. Ta thường nguyện sinh vào nơi không có Phật pháp để giáo hóa chúng sinh. Ông chớ nên tiết lộ lời nàỵ! Sau khi ta thị tịch thì mới được nói cho mọi người biết.
Lúc sư sắp thị tịch, chúng đệ tử thiết lập trai hội, làm việc phúc thiện, kẻ tăng, người tục đều tập trung ở trước sư rất đông. Lúc ấy, có một cặp bồ câu bay vào phòng, đậu trên giá móc y chăm chú nhìn sư, dù người đưa tay bắt, chúng vẫn không sợ. Sư nói: – Để mặc chúng, đừng bắt, đến tối chúng sẽ bay đi thôi!
Kể đó sư từ biệt đại chúng, rồi an nhiên thị tịch tại chùa Tịnh Trụ, thọ tám mươi lăm tuổi. Lúc ấy nhằm ngày 12 tháng 5, niên hiệu Nhân Thọ thứ ba (603)
31.2.3. Đời Đường, chùa ở núi Tam Học: Chùa nằm ở núi Tam Học, tại Giản châu, Thục Xuyên. Vào niên hiệu Khai Hoàng mười hai (592), đời Tùy, có dấu chân Phật xuất hiện ở bức tường phía đông của chùa, dài một thước tám tấc, rộng bảy tấc, đồng thời trên không trung tự nhiên xuất hiện đèn thần, đêm nào cũng vậy. Đặc biệt vào ngày lục trai thì xuất hiện nhiều.
Quan tri châu hay tin muốn tìm hiểu, nên cưỡi ngựa đến chùa. Khi còn cách chùa mười dặm, ông thấy trên không trung hiện một dãy đèn, nhưng càng tiến lại gần thì đèn mờ dần và biến mất. Khi ông rời khỏi chùa mười dặm thì đèn hiện lại như trước. Việc ấy đến nay vẫn còn.
Lúc đầu xuất hiện một ngọn đèn rất lớn, rồi từ ngọn đèn lớn ấy hiện ra hơn một nghìn ngọn đèn nhỏ khắp hư không. Khi gió lớn thổi đến thì nhũng ngọn đèn nhỏ này lại tắt. Những ngọn đèn nhỏ tắt hêt, thì ngọn đèn lớn kia xuất hiện trở lại. Những ngọn đèn nhỏ phân tán khắp nơi, đến lúc trời sáng mới tắt. Mỗi tháng vào ngày lục trai thường xuất hiện như vậy.
Đến cuối niên hiệu Trinh Quán (627-648), trong chùa có sư Pháp Tạng chuyên đi khất thực, nhưng không giữ gìn oai nghi tế hạnh. Một đêm kia, Pháp Tạng đang ngủ trong chùa, bỗng có một vị thần mặc giáp trụ đến ném sư ra ngoài, cách chùa bảy dặm, nhưng chỉ bị thương ở chân, còn những chỗ khác không bị gì. Sư tỉnh dậy trở vào chùa thì thấy các lớp cửa đều đóng chặt. Từ đó về sau, Pháp Tạng nỗ lực, siêng năng tu tập đạo nghiệp.
Trong bộ Đạo Tuyên luật sư cảm ứng kí ghi: “Luật sư hỏi vị trời:
– Vì sao có ngọn đèn thường chiếu sáng trên hư không tại ngôi chùa ở núi Tam Học, Giản châu, đất Thục?
Đáp:
– Trong núi ấy có chùa Bồ-tát, do bồ-tát Hoan Hỉ Vương lập vào thời kì chính pháp của Đức Phật Ca-diếp. Chùa ấy còn có tên là Pháp Đăng. Từ đó đến nay trên không trung thường chiếu sáng là biểu thị có ba trăm tiểu bồ-tát trường thọ tuyệt thực ở núi này. Còn ngọn đèn ấy chính là do thần núi Lý Đặc cúng dường sau này. Cho nên cứ đến tháng giêng là đốt đèn khắp nơi cúng dường Phật”.

About namcuulong

Check Also

PUCL QUYỂN 37 – CHƯƠNG KÍNH PHÁP

QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *